3. Mối liên hệ giữa tử và tái sinh

Người Thái ở vùng phía bắc tin rằng phi hay linh hồn của người chết vẫn còn vương vấn để gây phiền người sống sẽ bị đuổi đi đồng thời với lúc thi hài của người đó được tiêu hủy. Chỉ trừ khi đó là một cái chết dữ (NT tai hong; P akalamarana) thì cái phi ấy mới tiếp tục ám người sống trong 1 thời gian dài. Nếu một tử thi của một cái chết như vậy vẫn còn (nghĩa là người quá cố vẫn còn chưa biến mất), thì nó sẽ được chôn cất và rồi chỉ cho đến khi nào người ta cho rằng linh hồn kia đã sẳn sàng [rời khỏi] thì nó mới được khai quật lên, rồi được hỏa táng đúng cách (xem các bài viết của Keyes). Cho dù cái phi kia tan biến đi mất sau khi hỏa táng, hoặc ít nhất nó sẽ không còn được nhắc đến nữa, thì cái mà tôi đã gọi là một “tinh anh hồn phách” (surviving essence) của một người quá cố vẫn còn đó. Cái tinh anh hồn phách này được gọi là winnan hay duang winnan (ST duangwinyan), trong đó từ winnan xuất phát từ từ vinnana trong tiếng Pali nghĩa là “thức” (consciousness). Mặc dù còn nhiều mơ hồ trong tư duy của người Thái ở vùng phía bắc về mối quan hệ giữa phi, là linh hồn của người chết, và duang winnan, là “thức” còn lại sau khi người ta chết, và về mối quan hệ của hai thứ này với khuan nghĩa là “sinh linh” (vital spirit) dâng tràn trong người sống[17], nhưng không nghi ngờ gì rằng người Thái ở vùng này, cũng giống như những người đã trở thành Phật tử của Phật giáo Theravada ở Đông Nam Á, đều tin rằng “thức” chính là cái đã nối kết người đã qua đời với một người sẽ sắp được sinh ra.

Ý nghĩ về “thức” là cái nối kết kiếp sống của một người đã chết với kiếp của người sắp được sinh ra mà người Thái ở phía bắc nắm giữ là xuất phát từ tư duy Phật giáo chuẩn mực. Trong hệ tư tưởng này, vinnana – thức uẩn là một trong 5 thành tố hoặc ngũ uẩn (khandha) tạo nên một con người; bốn cái kia là sắc (form) hay thể (rupa), thụ (feeling) (vedana), tưởng (perception) (sanna), và tướng thức (coefficients of consciousness) – nghĩa là những hình thức này tạo điều kiện cho hành (sankhara). Theo tư tưởng Phật giáo chuẩn mực, cũng như được diễn giải trong Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo Luận) bởi Buddhaghosa, ngũ uẩn này không thể vĩnh hằng, ví nếu như thế thì giáo lý về anatta, “vô ngã”, sẽ không thể đứng vững. Tuy vậy, nó cũng rất cần thiết trong hệ tư tưởng Phật giáo vì cần phải có cái gì đó để nối kết kiếp sống này với kiếp tiếp theo theo một trật tự của luật nhân quả kamma, của các hành vi thích hợp về mặt đạo đức, thể hiện trong kiếp sống của một người, vốn được nối kết với những người tiền kiếp đã làm ra các hành vi ấy. Tư duy Phật giáo đã tạo ra vinnana – thức uẩn – là cái nối kết một kiếp sống này với kiếp tiếp theo.

Một trong những hình thức cổ xưa nhất của lý luận này là trong Mahanidanasutta (Digha, tập II, trang 55), trong đó Đức Phật hỏi rằng “Nếu thức không chui vào trong bụng của mẹ, thì trí và nhục thân có được tạo thành ở đó không?” Người đã được trả lời là không (dịch từ Thomas 1933:67, xem thêm lời bình về đoạn này trong Thomas 1933:105 và trong Collins 1982:211-12). Trong tập thần luận Visuddhimagga, Buddhaghosa đã ám chỉ nhiều lần đến “thức-tái-sinh” (rebirth-consciousness) (patisandhi-vinnana) là thứ nối kết một kiếp sống với kiếp kế tiếp (xem Visuddhimagga tập XVII, trang 126-174, đồng thời trong tập VII, trang 10; XVII 51; XIX 13,23). Rõ ràng là thức được tạo ra trong tư duy Phật giáo chuẩn mực để chỉ cái vật nối kết một người ở kiếp này với một người ở kiếp kế tiếp, nhưng giáo lý về anatta – vô ngã – vẫn được giữ vững bởi việc phủ nhận rằng thức là một thực thể bất biến (xem Rhys Davids và Stede 1972:618 và Collins 1982:213-14).

Collins (1982:213) đề xuất rằng ý tưởng về thức tái sinh có thể đã trở thành một tư tưởng phổ biến vì người nông dân sẽ thấy nó ít nhiều dễ dàng phối hợp với tư duy tiền Phật giáo của họ về việc “sinh ra từ một hồn” (vốn không được định nghĩa rõ ràng). Theo thuật ngữ Phật giáo, đó là việc [con người được – ND] sinh ra từ thức uẩn “ẩn vào trong cơ thể người mẹ, để hình thành nên một con người được tạo ra từ một nghiệp (karma) kết từ những kiếp sống trong cõi luân hồi – samsara.” Cho dù quá trình này có được khẳng định bằng các nguồn gốc lịch sử hay không đi nữa, thì rõ ràng là tư tưởng Phật giáo phổ thông ở Đông Nam Á cũng như ở Sri Lanka đều được rút ra từ tư duy Phật giáo chuẩn mực cái khái niệm rằng vinnana là cái tinh anh hồn phách của một người còn lại sau cái chết và sẽ nối kết con người ở một kiếp sống với người sẽ sinh ra trong một kiếp sống mới. Tuy nhiên khái niệm này cũng đã có được nhiều bổ sung.

Trong suy nghĩ của người Thái ở phía bắc (cũng như của người Xiêm và người Lào), khái niệm vinnana đã luôn được gắn với từ duang, một từ không có nguồn gốc Pali. Chính xác thì từ này có trong hầu hết ngôn ngữ thuộc nhóm Thái và dùng chủ yếu như là một thành tố phân loại cho những thứ có thể nhận biết trong 1 hình dạng. Nó còn được dùng để chỉ những ngôi sao và những thứ có phát quang.[18] Thông qua việc cảm nhận cái hồn phách của mỗi người còn lại không chỉ sau khi chết mà còn sau khi thi thể đã được tiêu hủy như là duang winnan, người Thái ở vùng phía bắc ấn đã tạo cho cái hồn phách này một sự tồn tại lớn hơn là cái được chú giải bằng khái niệm thần học vinnana (thức). Duang winnan có một hình dạng và một tính phát quang; hơn thế nữa, nó được nối kết với các tinh tú, là một mối liên kết trong tư tưởng của người Thái ở phía bắc khi nói về tái sinh (xem bên dưới). Người Thái ở vùng này cũng hành động theo cách thức thể hiện là duang winnan sẽ tồn tại như là một thực thể tự thân trong một thời gian dài hơn thời gian mà tư tưởng Phật giáo chuẩn mực ấn định cho nó. Trong suốt khoảng thời gian từ khi hỏa táng đến khi chấm dứt nghi lễ tưởng niệm, duang winnan có một tồn tại ngưỡng (luminal existence). Mặc dù có những sự bổ sung thêm vào trong khái niệm vinnana trong tư duy và thực hành của người Thái ở phía bắc, nhưng khái niệm duang winnan vẫn khẳng định giáo lý về anatta – vô ngã; sự thiếu vắng một thể vĩnh hằng, được giữ vững.[19]

Mặc dù mối quan hệ giữa duang winnan và phi tai vẫn chưa được phân tích theo một khuôn khổ vững chắc có tính logic trong tư duy phổ thông ở vùng phía bắc Thái Lan, nhưng rõ ràng là chúng được dùng để tìm hiểu hai khía cạnh khác nhau của cái chết. Khi chết, tử thi trở thành một vật thể bất đắc dĩ, một thân xác đang thối rữa thay vì là một con người sống. Tử thi cũng trưng ra một sự gãy đổ trong sự tồn tại có trật tự, có quy chuẩn; tất cả những hoạt động nào từng gắn liền với người quá cố sẽ không còn được diễn ra nữa. Nỗi khiếp sợ gây ra bởi một tử thi và cảm giác phi trật tự mà cái chết tạo nên còn bị làm cho tăng lên thêm bởi khía cạnh tình cảm của các mối quan hệ mà người còn sống có với người vừa mất. Những khía cạnh tiêu cực này của cái chết được người Thái ở vùng phía bắc đối diện bằng cách tham khảo cái ý tưởng rằng có một cái thể tiêu cực – là phi tai(hồn ma) – còn lại sau cái chết. Còn có nhiều công phu trong nghi thức và kinh văn dựa trên khái niệm này đã cho phép người Thái ở vùng này hiểu được những cái chết nguy hiểm và đặc biệt ô uế xảy ra với sự bất ngờ không mong đợi hay là trong quá trình sinh con.

Người Thái ở phía bắc, cũng giống như toàn thể nhân loại, không sẵn lòng chấp nhận cái chết như là dấu hiệu của sự chiến thắng sau cùng của thế lực hung ác và/hay của sự hỗn loạn. Hồn ma (phi) của người chết sau cùng cũng sẽ bị trục xuất thông qua việc thực hiện các nghi lễ thích hợp (và trong trường hợp những người đặc biệt linh thiêng, cái phi đó có thể sẽ không bao giờ hiện hữu). Khi quay lưng khỏi các khía cạnh tiêu cực của cái chết gắn liền với khái niệm phi tai, người Thái ở phía bắc đã tìm ra ý tưởng về duang winnan, một ý tưởng xuất phát từ tư tưởng Phật giáo, một nhận thức cho phép họ thể hiện cảm giác sơ khai của loài người rằng: có một sự tiếp tục sau cái chết. Trong khi ý tưởng về phi tai có nguồn gốc từ sự tức thời của việc đối đầu với cái chết, thì quan niệm về duang winnan vươn ra khỏi cái chết hướng đến một sự tồn tại mới.[20]


[17] Có lẽ chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Phật giáo sâu nặng hơn người khác nên Phra Khru Anuson đã dùng từ duang winyanđể chỉ cội nguồn của việc “con người chết bất đắc kì tử” trong miêu tả của ông về phong tục tập quán về tang ma của người Thái ở phía bắc (Anusaraņaśāanakiarti và Keyes 1980:14). Đồng thời ông cũng đã dùng từ phi khi nói về cái gắn liền với tử thi. Sự bất nhất trong cách sử dụng các khái niệm này cũng có thể tìm thấy trong những người Lào. Archaimbault (1961:12n) đã lưu ý rằng ở người Lào ở Champasak thuộc nam Lào thì “les conceptions . . . sur la destinée des âmes après la mort sont plus qu’imprécises.”  Viết chung chung hơn về tôn giáo tín ngưỡng của người Lao, Zago (1972:143) đã nói rằng “entre Khouan and Phī l’on doit admettre une certain continuité et ressemblance, si ce n’est une identité.” Zago (1972:141) khẳng định rằng khái niệm về khuan của người Lào (ông dịch là khouan) khác biệt rõ rệt với khái niệm vinnana. Tuy vậy, Archaimbault (1963:12n) lại ghi nhận được là ở người Lào mà ông nghiên cứu, thì vinyan (ông đã viết lại theo từ ngữ của tiếng Lào) là vật chất duy nhất một người còn để lại trong tro tàn sau khi người đó đã được hỏa táng. Tôi cũng tìm thấy niềm tin tương tự trong người Lào ở vùng đông bắc Thái Lan, là nơi mà tôi đã tiến hành nghiên cứu điền dã dài hơi, cũng như ở người Thái thuộc vùng phía bắc. Do vậy, mặc dù cả người Lào hay người Thái ở vùng phía bắc không có một lý thuyết có hệ thống về linh hồn, dường như rõ ràng là trên thực tế trong cả 2 cộng đồng người này 3 khái niệm khuanphi và winnan được nối kết với nhau và được dùng để chỉ những giai đoạn khác nhau trong một quá trình mà mỗi người được tin là phải trải qua khi người đó chuyển từ sinh sang tử và rồi tái sinh.

[18] Placzek, người có 1 nghiên cứu về các phân loại trong tiếng Thái, đã nói rằng duang là để phân loại những nguồn ánh sáng và bức xạ, stains and souls (winjaan). Linh hồn – thứ rời khỏi chủ nhân của nó – cũng được cho là xuất hiện như là nguồn ánh sáng lấp lánh tròn tròn” (Placzek, không có năm xuất bản: 13). Trong 1 bài viết khác, ông đã viết: “Tôi ngờ rằng nền tảng căn bản của thị giác nằm ở sự thật là nguồn ánh sáng được cảm nhận là vừa tròn trịa (đồng thời) (vừa là phát tiết hay có vầng hào quang)…” Placzek 1980:14).

[19] Trong nghiên cứu của ông về Phật giáo Miến Điện, Spiro lý luận rằng người Miến Điện cho rằng ý tưởng về anatta là “bất khả về mặt tâm lý.” “Tuân theo sự giải thoát của luật nhân quả, cho dù họ là những tín đồ Phật giáo chuẩn mực lại tin vào sự tồn tại của một linh hồn dai dẳng, vốn sẽ còn lại từ cuộc tái sinh này đến tái sinh khác, trải qua các hậu quả của nghiệp chướng” (Spiro 1970:88-89). Cho dù ở Miến Điện ra sao đi nữa, thì tôi thấy kết luận này không đúng với trường hợp tín đồ Phật giáo mà tôi nghiên cứu tại Thái Lan. Trong công trình của tôi là Bán Đảo Vàng (The Golden Peninsula) (Keyes 1977:116), cũng như trong bài này, tôi cho rằng khi nhận thức về một hồn phách tinh anh với tham khảo về tư duy Phật giáo chuẩn mực về vinnana – thức, Phật tử người Thái đã không gây hấn với nền tảng cơ bản của Phật giáo liên quan đến sự phi linh hồn (soullessness). Trong bản ngỏ mới trong tác phẩm Chủ nghĩa siêu nhiên của người Miến Điện, Spiro (1978:xxxiv-xxxv) tấn công rất mạnh mẽ nhận định của tôi rằng Visuddhimagga đưa ra một nền tảng chuẩn mực cho niềm tin rằng vinnana còn lại sau cái chết và nối kết một kiếp với kiếp tiếp theo. Sự chối bỏ của Spiro là dựa trên một giải thích gượng ép về một đoạn trong Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo Luận) mà tôi đã đề cập; một nghiên cứu đầy đủ hơn về nguồn tư liệu có liên quan (tôi có đề cập đến 1 số trong bài viết này) sẽ xác minh một cách rõ ràng luận điểm của tôi rằng, trong tư duy chuẩn mực, vinnana được xem là nối kết một con người đã chết với một con người sẽ được sinh ra. Thực sự là lý thuyết về nghiệp chướng kamma đã biến một sự nối kết như vậy thành ra một nền tảng cơ bản của Phật giáo chuẩn mực cũng như Phật giáo dân gian. Như Buddhaghosa đã viết: “Ở đây [trong tồn tại hiện thời] có một sự nối kết tái sinh, chính là thức; có một sự đản sinh [vào trong tử cung] chính là sắc-thể; có tính nhạy cảm, chính là nền tảng của cảm giác; có cái được đụng chạm, là sự tiếp xúc; có cái được cảm thấy, chính là cảm xúc; do vậy 5 thứ này ở đây trong quá trình-tái sinh [hiện thời], hình thành từ những điều kiện trong nghiệp chướng kamma đã có trong quá khứ [tiền kiếp – ND]” (Visuddhimagga XIX, 13; dịch bởi Bhikkhu Nyanamoli 1976:696). Khẳng định của Spiro rằng lý thuyết về anatta là “bất khả về mặt tâm lý” là một tuyên bố được ông tái xác nhận trong một bài phê bình gần đây (Spiro 1984: 287) về một quyển sách có nội dung trái ngược – Những con người vô ngã (selfless persons) của Steven Collins (1982), dựa trên một sự hiểu nhầm về vị trí chuẩn mực và về mối quan hệ giữa vị trí đó với Phật giáo dân gian vốn được định hình bởi tư tưởng Phật giáo chuẩn mực.

[20] Ý niệm về duang winnan được sử dụng trong tư duy của người Thái ở phía bắc nhằm tạo ra một nối kết giữa kiếp trước và kiếp sau. Mặc dù nó sẽ hoàn mĩ nếu gắn với cách dùng trong Phật giáo chuẩn mực về thức (vinnana) để nói về hồn phách tinh anh của một người sống, nhưng trên thực tế thì họ đã không làm như vậy. Khi đề cập đến cái có thể tạo thành “thức” của một người sống, người Thái ở vùng này (và những dân tộc Thái khác) lại nói đến citcai (nghĩa đen là “tâm-trí”) hay chung chung hơn là khuan (ST khwan) (“sinh khí” – vital essence). Mặc dù có thể giống như Terwiel (1979) đã nói, rằng khuan/khwan là một khái niệm tiền Phật giáo được dân tộc nói tiếng Thái dùng để hiểu về cái còn lại sau cái chết, nhưng khái niệm này không có vẻ gì giống như là đã được dùng theo cách này bởi bất kì Phật tử người Thái nào cả. Chính xác hơn, theo như Tambiah (1970:59) đã chỉ ra khi xem xét về tư tưởng Phật giáo dân gian trong dân tộc nói tiếng Lào ở vùng đông bắc Thái Lan, thì sự kết hợp khuan/khwan với winnana đã nhấn mạnh tầm quan trọng của từ winnana, với tư cách là một khái niệm để giúp hiểu được cái gì còn lại sau cái chết.

 Tác giả: GS. Charles Keyes – University of Washington

Người dịch: TS. Trương Thị Thu HằngTags: cái chếtcharles keyesfeaturedgiáo dụckhoa hoc luậnnam thái lannghi lễNghiên cứunhân họcphật giáotôn giáotư duytừ tử đến sinhvăn hóa họcxa hoi hoc

Add Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *