[Bài gốc đăng trên báo Thanh Niên, ngày 06/11/2020, link bài gốc]

Nhiều chuyên gia cho rằng về lâu dài, với sự phát triển đô thị, TP.HCM cần hoạch định chiến lược cụ thể về an sinh xã hội. Trong đó, quan trọng nhất vẫn là quy hoạch, phát triển đô thị bao gồm tính toán chu toàn cho cả người lao động nhập cư.

Bài học từ dòng người di cư “ngược”

Ngày 30.9, khi sắp bước vào thời khắc “bình thường mới”, TP.HCM đã chứng kiến điều chưa có tiền lệ: Dòng người lũ lượt với đồ đạc lỉnh kỉnh trên xe, xếp hàng chờ xin qua chốt kiểm soát dịch để về quê.

Ông Lê Văn Thành, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu văn hóa – xã hội (Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM), gọi làn sóng về quê này là cuộc di cư “ngược” và lý do phần lớn là vì người lao động (NLĐ) đã kiệt quệ khi mất đường sinh kế do dịch bệnh, giãn cách.

Người dân chờ trước chốt kiểm soát dịch qua địa bàn TT.Tân Túc (H.Bình Chánh) để về quê ngày 30.9
TRẦN KHA

“Đa số NLĐ là công nhân hay làm nghề tự do khi nhập cư vào TP.HCM có mong muốn cải thiện thu nhập, đời sống và muốn làm việc lâu dài. Trước đây, ngay cả thời kỳ khó khăn, họ vẫn có thể trụ lại đây làm việc, vừa trang trải các dịch vụ xã hội, vừa có thể gửi tiền về quê. Nhưng nay, với làn sóng người về quê, chúng ta đã có nhận thức rõ hơn về sự tích lũy của NLĐ”, ông Thành nói và phân tích thêm: “Trước đây, đến TP.HCM chủ yếu là cá nhân, người độc thân, nhưng nay số lượng NLĐ kèm theo gia đình của họ đến ngày càng lớn. Vì vậy, nhu cầu tiếp cận các dịch vụ như học hành cho con em, khám chữa bệnh, vui chơi giải trí… tăng theo. Dịch giã, giãn cách kéo dài, khi không thỏa mãn được nhu cầu cuộc sống thì NLĐ ra đi”.

Trong khi đó, các gói an sinh xã hội của TP.HCM chưa “đủ lực” để NLĐ trang trải, cũng như không giải quyết được triệt để chuyện họ ở lại chờ tới khi hết dịch.

Cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc người dân về quê là cơ hội để các tỉnh, thành tái bố trí lao động. Tuy nhiên, theo ông Thành, người dân tìm kiếm việc làm tại địa phương rất khó. Người dân, nhất là lao động tự do, có thể tiếp tục rời quê lần nữa, nhưng lần này ra đi với tâm thế còn nhiều trở ngại như về vật chất, vắc xin, việc làm…

“Tôi tin chính quyền TP.HCM cần tiếp tục nhận thấy rằng bất kỳ NLĐ nào cũng đang đóng góp vào nhu cầu của TP.HCM. Vì vậy, chúng ta không thể chỉ xem NLĐ nhập cư ở mức chấp nhận, mà phải là cần thiết. Nhà nước phải tính toán để NLĐ trở lại. Ví dụ, có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức đón NLĐ; có phương án cụ thể để giải quyết những vấn đề về nhà ở, học hành của con em họ…”, ông Thành nêu ý kiến.

Theo đề xuất của một số chuyên gia, vấn đề quan trọng trước mắt cần đặt ra trong an sinh xã hội của NLĐ, chính là nhà ở: Một chỗ ở an toàn, đủ chất lượng, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm Covid-19… Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy một khi người dân tạm trú vào thành phố thì điều đặt ra là họ ở đâu.

“Tới đây, người dân quay trở lại TP.HCM có thể sẽ ở chỗ cũ. Vậy thì những khu đó cần được củng cố như thế nào? Nó cần có sự quản lý chặt chẽ hơn, thương lượng với các chủ trọ để làm sao cho chất lượng ở các khu nhà trọ nâng lên, đảm bảo vệ sinh, 5K… Song song đó, cần rà soát lại việc quản lý nhà nước về lao động, dân cư, vốn là tiền đề để thực hiện các chính sách hỗ trợ”, ông Thành nói.

Trung tâm an sinh TP.HCM hỗ trợ người dân khó khăn trong thời gian giãn cách
THU DUYÊN

Mã số an sinh cho người lao động phi chính thức?

PGS-TS Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện nghiên cứu đời sống xã hội (SocialLife), nhận định an sinh xã hội không đơn thuần chỉ là gói hỗ trợ, vì số tiền này không thấm vào đâu để NLĐ trang trải.

Ông Lộc nêu đề nghị, thời gian tới, về tổng thể, việc phát triển, quy hoạch và thiết kế đô thị, bên cạnh hạ tầng về vật chất, TP.HCM phải quan tâm xây dựng hạ tầng phúc lợi, và các hạ tầng phải tính đến NLĐ nhập cư. Khi có “thiết chế cứng” rồi, cần có “thiết chế mềm”, tức là giúp người dân thực hành tập quán cư trú trong điều kiện mới.

“Ví dụ về tập quán cư trú, người di cư có xu hướng tái sản xuất không gian cư trú ở miền quê của họ thành một không gian mới như ở các xóm trọ, khu lưu trú tập trung những người đồng hương… Hay, một căn nhà trọ là mô hình thu nhỏ của ngôi nhà; trong phòng của họ chứa luôn chiếc xe máy… Nay, cần phải thay đổi nó, một nhà trọ phải phân khu chức năng, có nhà để xe riêng, có bếp chung liền nhau để đảm bảo cháy nổ… Các khu dân cư phải tính toán các thiết chế dịch vụ, phúc lợi, về y tế, trường học. Khi có những thiết chế này rồi thì ta phải giúp họ thực hành, thay đổi”, ông Lộc nêu.

Câu chuyện hạ tầng dữ liệu dân cư cũng được ông Lộc nêu ra. Theo đó, quản lý một đô thị cần dữ liệu dân cư; dữ liệu này dành cho mục đích quản lý rủi ro hay để chính quyền hỗ trợ.

“Ở nhiều quốc gia, khi người dân tới phải đăng ký mã số an sinh xã hội, đi làm phải đóng thuế và khi có vấn đề gì thì cơ quan an sinh hỗ trợ. Với xu hướng lao động dịch vụ, phi chính thức ngày càng tăng, chưa kể là lao động dưới dạng “hợp đồng dịch vụ” trên nền tảng công nghệ hiện nay, có thể thấy, lâu dài, để kiến tạo đô thị, TP.HCM cần xây dựng một hạ tầng hoàn chỉnh về dữ liệu dân cư, không phải chỉ riêng phục vụ cho việc an ninh trật tự mà là cho an sinh xã hội, với những cam kết rõ ràng để tránh lo ngại về an toàn dữ liệu cá nhân”, ông Lộc đề xuất.

Tiếp đó, TP.HCM cần hình thành cơ chế quản lý mã số an sinh xã hội cho NLĐ phi chính thức, để thông qua đó có những gói bảo hiểm y tế, xã hội tự nguyện… cho họ. Nếu người dân khó khăn, thiếu hụt chi tiêu, thu nhập nằm dưới ngưỡng mức sống tối thiểu, thì có thể nhà nước sẽ trích ngân sách hoặc huy động từ xã hội theo quy định của pháp luật để hỗ trợ.

“Ta cần một cơ chế đủ phủ rộng để không ai bị bỏ rơi, đồng thời đòi hỏi một số điều kiện với người tham gia như sống và làm việc lâu dài”, ông Lộc nói.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.