[Bài gốc đăng trên Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN TP. HCM, ngày 09/11/2021, link bài gốc]

Trong một vài năm gần đây, doanh nghiệp ngày càng có nhu cầu về tìm hiểu hành vi con người để cải tiến sản phẩm và dịch vụ, giải quyết các bài toán lớn về phát triển cộng đồng, phát triển bền vững, các quy luật của hệ sinh thái, thể chế và cách thức xã hội vận hành khi tích hợp với công nghệ mới. Đổi mới không chỉ là sự phát triển các công nghệ mới được tích hợp vào sản phẩm hoặc quy trình mới. Đổi mới cũng có nghĩa là phát triển các phương thức thực hành, phổ biến những thực tiễn mới và áp dụng trong xã hội. Và đó là lĩnh vực nghiên cứu và phát triển của mảng Khoa học Xã hội & Nhân văn.

Sự thiếu vắng của Khoa học xã hội – Nhân văn trong “sân chơi” đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

Trong một vài năm gần đây, doanh nghiệp ngày càng có nhu cầu về tìm hiểu hành vi con người để cải tiến sản phẩm và dịch vụ, giải quyết các bài toán lớn về phát triển cộng đồng, phát triển bền vững, các quy luật của hệ sinh thái, thể chế và cách thức xã hội vận hành khi tích hợp với công nghệ mới. Đổi mới không chỉ là sự phát triển các công nghệ mới được tích hợp vào sản phẩm hoặc quy trình mới. Đổi mới cũng có nghĩa là phát triển các phương thức thực hành, phổ biến những thực tiễn mới và áp dụng trong xã hội. Và đó là lĩnh vực nghiên cứu và phát triển của mảng Khoa học Xã hội & Nhân văn.

Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) bao phủ khá rộng gồm các ngành/liên ngành tìm hiểu về xã hội và hành vi cá nhân – tổ chức tương tác với nhau. Các chuyên ngành chính của KHXH&NV bao gồm kinh tế học, khoa học chính trị, xã hội học, địa lý, tâm lý học, nhân học, luật, và cả kinh doanh & quản trị (Paunov et al., 2017)

Các nghiên cứu khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) cũng có vai trò thúc đẩy việc xác định và dự báo các cơ hội đổi mới, và hiện diện xuyên suốt quá trình đổi mới. Tuy nhiên, hiện tại có rất ít nghiên cứu về sự đóng góp của KHXH&NV trong đổi mới sáng tạo. Tại Việt Nam, sự hiện diện của các chuyên gia KHXH&NV cũng hạn chế và ít phổ biến.

Vai trò của KHXH&NV trong đổi mới sáng tạo

Đầu tiên, Có thể nhìn vào mối quan hệ giữa khoa học xã hội và đổi mới công nghệ. Sự ứng dụng và phát triển một công nghệ mới diễn ra trong một bối cảnh xã hội, văn hoá, kinh tế cụ thể và có liên quan đến các yếu tố tâm lý con người. Một mặt, công nghệ mới sẽ làm thay đổi những hành vi hiện có, nhưng khi hành vi thay đổi thì chính công nghệ sẽ lại thay đổi. Ví dụ của ngành công nghệ thông tin giúp con người tiếp cận nhiều thông tin hơn và tiết kiệm được thời gian tìm kiếm thông tin, nhưng rồi họ lại không có thời gian để đọc thông tin và không đủ khả năng để xử lý thông tin họ có. Khoa học kỹ thuật giúp tạo ra những sản phẩm công nghệ mới, nhưng áp dụng và triển khai như thế nào thì cần kiến thức từ khoa học xã hội.

Một khía cạnh khác có thể xem xét đến là quá trình đổi mới sáng tạo. Hình 1 bên dưới cho thấy trong mỗi giai đoạn của đổi mới sáng tạo đều cần những kỹ năng tương ứng. Các chuyên gia sẽ là người nhận ra các vấn đề cụ thể trong từng giai đoạn và có cách tiếp cận để giải quyết vấn đề đó. Ở giai đoạn 2, khi phát triển sản phẩm hoặc giải pháp, cần sự tham gia liên ngành. Đặc biệt là trong bối cảnh ngày nay, khi các dự án kinh doanh chạm đến rất nhiều vấn đề như đói nghèo, bất bình đẳng, môi trường sinh thái – ở quy mô toàn cầu – thì càng không thể giải quyết bằng chỉ một chuyên ngành duy nhất, hoặc bằng một cá nhân chuyên gia nào.

Hình 1 – Vai trò của khoa học Xã hội – nguồn: Oecd, Social Sciences and Innovation, 2001

Lấy ví dụ của những dự án đổi mới sáng tạo dựa vào việc giới thiệu một ứng dụng mới hoặc một mạng xã hội mới. Các chuyên gia khoa học xã hội là cần thiết tham gia cùng dự án ngay từ lúc thiết kế ứng dụng để phân tích – mô tả hành vi của con người, mô tả được xã hội và cộng đồng, tìm kiếm và phát hiện những insights về văn hoá và lối sống. Sau khi thiết kế ứng dụng hoặc mạng xã hội xong, thì các chuyên gia vẫn cần tiếp tục làm công việc của mình để đưa ra các giải pháp cho hàng loạt các vấn đề liên quan đến phát triển cộng đồng, mối quan hệ tương tác, tâm lý hành vi, sự phát triển của con người, pháp luật, cân bằng xã hội,…

Thực tiễn cho thấy trong những năm qua, sân chơi đổi mới sáng tạo tại Việt Nam không thiếu những dự án táo bạo mong muốn xây dựng những hệ sinh thái nhỏ, những mạng xã hội lớn với nhiều kỳ vọng nhưng đều thất bại. Yếu tố kỹ thuật công nghệ không phải là vấn đề của những dự án này. Sự thất bại cũng không chỉ do các nguyên nhân về vận hành kinh doanh, mà là do thiếu hụt tầm nhìn về hành vi con người, về một hình ảnh trật tự – cấu trúc xã hội trước và sau khi áp dụng công nghệ mới đó. Đổi mới sáng tạo không phải chỉ đến từ tri thức công nghệ, mà còn cần tri thức xã hội thị trường.

Và đặc biệt, với xu hướng phát triển của một nhánh đổi mới sáng tạo xã hội trong những năm gần đây (Council, 2020; Nguyen, 2013; Trần, 2021), thì vai trò của KHXH&NV càng quan trọng hơn (Schuch, 2019). Nhiều dự án mong muốn tiếp cận các vấn đề xã hội như bất bình đẳng giáo dục, cải thiện sinh kế tại các cộng đồng, giảm thiểu các tác hại của đô thị hoá và các vấn đề xã hội khác. Những dự án này cần những giải pháp và sáng kiến xã hội, nghĩa là cần trả lời cả hai câu hỏi: “Vấn đề xã hội hiện tại là gì? Giải pháp nào cho vấn đề này?” – Đây chính là chuyên môn thuộc lĩnh vực KHXH&NV.

Vì sao những đóng góp của KHXH&NV ít được quan tâm

Mặc dù KHXH&NV có vai trò quan trọng trong “sân chơi” của đổi mới sáng tạo, nhưng hiện tại sự đóng góp và hiện diện của KHXH&NV còn rất khiêm tốn, và mờ nhạt. Có nhiều lý do dẫn đến sự thiếu vắng những chuyên gia có chuyên môn về khoa học xã hội, nguyên nhân đến từ cả hai phía: phía doanh nghiệp – thị trường, và phía bản thân những chuyên gia.

» Về phía doanh nghiệp:

Sự đóng góp của khoa học xã hội trong doanh nghiệp thường không thể hiện ở khía cạnh làm ra sản phẩm hoặc lợi nhuận thu được. Khoa học xã hội thường liên quan đến giải pháp cho các vấn đề. Các phát hiện từ nghiên cứu khoa học xã hội thường giúp gia tăng sự hiểu biết của doanh nghiệp về cộng đồng, thị trường, các quy luật xã hội… làm cơ sở cho các quyết định, không trực tiếp đưa ra kết quả (Bastow et al., 2014)
Và vì vậy, các đóng góp của khoa học tự nhiên như STEM, công nghệ, khoa học vật liệu, khoa học máy tính,… đều có thể được ghi nhận bằng chứng dựa trên đăng ký bằng sáng chế, thì các thành quả của khoa học xã hội không thể hiện trong những đo lường thống kê số lượng bằng sáng chế. Điều này có nghĩa rằng chỉ số đo trên rất nhiều báo cáo thống kê về đổi mới sáng tạo đã hoàn toàn bỏ qua sự đóng góp của khoa học xã hội. (Paunov et al., 2017).

Vẫn có một sự hiểu chưa đúng về KHXH&NV. Đối với nhiều người, khi nhắc đến “khoa học xã hội” thì hình ảnh liên tưởng đến nhân viên xã hội, nhà nghiên cứu lịch sử điền dã hoặc giáo viên, và đóng khung khu vực làm việc tại các viện nghiên cứu hoặc cơ sở hành chính – công lập – phi lợi nhuận. Không chỉ vậy, trong các chương trình tuyển dụng tại doanh nghiệp thường không có những cơ hội việc làm cho các chuyên môn tâm lý học – xã hội học – phát triển cộng đồng – nhân học – văn hoá học…

»Về phía cá nhân những chuyên gia – nhà khoa học lĩnh vực KHXH&NV

Những người có chuyên môn nghiên cứu (ví dụ như tiến sỹ) trong lĩnh vực khoa học xã hội ít tham gia lao động trong khu vực tư nhân hoặc các doanh nghiệp.

Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, chuyên gia KHXH&NV về đổi mới sáng tạo & kinh doanh tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung là chưa nhiều. Hơn nữa, những nghiên cứu KHXH&NV về công nghệ mới hoặc đổi mới sáng tạo thường được hiểu là những tiếng nói phản biện để “giảm thiểu mặt trái của đổi mới sáng tạo” (OECD, 2001; Schuch, 2019). Chính suy nghĩ này làm hạn chế sự tham gia trọn vẹn của KHXH&NV vào việc đồng hành, kiến tạo và thúc đẩy những đổi mới sáng tạo tích cực (OECD, 2001). 

»Thời điểm KHXH&NV nhập cuộc với sân chơi đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

Mặc dù không thể phủ nhận những khoảng cách và rào cản khiến KHXH&NV chưa tham gia vào những hoạt động đổi mới sáng tạo trong nhiều năm qua. Nhưng sau khi thế giới trải qua 2 năm đầu tiên của đại dịch Covid-19, có rất nhiều cơ hội, vừa là lực thúc đẩy và vừa là lực hấp dẫn để thu hút thêm các tài năng trong lĩnh vực khoa học xã hội:

»Các vấn đề cộng đồng như xung đột đa văn hóa, LGBTQ, well-being (hạnh phúc – sống tốt), sự già hóa dân số,… trở thành mối quan tâm của các doanh nghiệp. Khi việc sản xuất sản phẩm không còn đơn giản là việc làm ra một sản phẩm có công dụng cụ thể rồi bán các sản phẩm đó để thu lợi nhuận, thì rất cần những chuyên gia thực sự am hiểu về tâm lý hành vi, hiểu về quy luật của cộng đồng, lý giải và dự báo được các mô hình giải pháp tác động đến xã hội.

»Chuyển đổi số: Một mặt, sự chuyển đổi số diễn ra rộng khắp trên toàn thế giới và thay đổi sâu sắc hành vi của con người cũng như cách các xã hội vận hành. Vì vậy, những chủ đề xã hội số hay truyền thông số, là lĩnh vực mới nổi thu hút sự quan tâm của những nhà nghiên cứu khoa học xã hội. Nếu như trước kia, khoa học xã hội thường mạnh về nghiên cứu định tính và lợi thế khám phá small data, thì ngày nay đào dữ liệu lớn (big data mining) cũng là một phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội. Điều này kéo khoa học xã hội và khoa học dữ liệu, hệ thống thông tin hội tụ lại cùng nhau.

Mặt khác, chính vì hành vi con người đang thay đổi một cách sâu sắc, việc mô tả hành trình khách hàng qua một số sơ đồ, biểu đồ hay bảng số thống kê là không đủ. Những hành trình khách hàng này cần được đặt trong một bối cảnh xã hội – văn hoá cụ thể với những tương tác với môi trường và cộng đồng. Những dữ liệu về khách hàng số ngày càng đa dạng, gồm các dữ liệu về sức khoẻ, cảm xúc, tâm lý – để đọc hiểu và sử dụng những dữ liệu này, cần đến những chuyên viên có kiến thức nền tảng tâm lý học, nhân học, xã hội học.

Tương lai bền vững: Đại dịch Covid-19 (từ cuối 2019) như một bước ngoặt thúc đẩy các giải pháp đổi mới sáng tạo, đặc biệt là đổi mới sáng tạo xã hội (social innovation). Đồng thời bối cảnh đại dịch cũng đặt con người, doanh nghiệp và các tổ chức vào một bối cảnh bất ổn, nhiều hành vi thay đổi sâu sắc. Chính lúc này mọi quyết định về kinh doanh, đổi mới sáng tạo trong khu vực công hay tư nhân đều chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh xã hội (và ngược lại). Chính vì vậy, để phát triển bền vững rất cần những chuyên gia am hiểu về các quy luật xã hội, lý giải được hành vi – tâm lý con người, dự báo và đề xuất được các mô hình phát triển kinh tế – xã hội. Và cũng chính trong bối cảnh này, chủ đề “bền vững” cũng đang là mối quan tâm của KHXH&NV (Corneloup, 2009).

»Nhận thức của xã hội về KHXH&NV đã khác trước đây. Không chỉ sự quan tâm đến các vấn đề xã hội gia tăng, mà đại dịch Covid-19 là cơ hội để tiếng nói và hành động của những chuyên gia KHXH&NV trở nên quen thuộc với công chúng tại Việt Nam. Các hoạt động CSR, CSV và đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp tư nhân cũng bắt đầu tìm kiếm các chuyên gia xã hội học. Nếu như trong những đợt bùng phát dịch bệnh có những ngành y học, hoá học, y sinh, công nghệ thông tin được quan tâm nhiều (Paunov & Planes-Satorra, 2021), thì trong giai đoạn hậu Covid cần đến những giải pháp từ ngành KHXH&NV.

Như vậy, đổi mới sáng tạo bấy lâu này là một lĩnh vực bị chi phối mạnh mẽ bởi các môn khoa học tự nhiên, STEM, công nghệ, kỹ thuật sáng chế. Các bằng sáng chế cũng thường tập trung vào đổi mới công nghệ – các phát minh, chế tạo. Sự hiện diện và đóng góp của ngành Khoa học Xã hội & Nhân văn rất hạn chế, chưa được khuyến khích và rất mờ nhạt. Bối cảnh thế giới và Việt Nam sau 2 năm của đại dịch Covid-19 đang mở ra nhiều thách thức và yêu cầu về một sự tái cấu trúc toàn diện hoạt động đổi mới sáng tạo, đề cao các nguyên tắc xã hội mới và sự phát triển bền vững. Xu hướng này có thể sẽ trở thành cơ hội để phát huy thế mạnh của khoa học xã hội và thu hút những chuyên gia lĩnh vực này tích cực tham gia vào sân chơi đổi mới sáng tạo. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bastow, S., Dunleavy, P., & Tinkler, J. (2014). The Impact of the Social Sciences: How Academics and Their Research Make a Difference: SAGE.

Corneloup, J. (2009). How the question of innovation is addressed by the social sciences. Revue de géographie alpine(97-1). doi:10.4000/rga.841

Council, B. (2020). Social innovation and higher education in Vietnam. Retrieved from https://www.britishcouncil.org/society/social-enterprise/reports/SIHE

Nguyen, T. Q. G. (2013). Social innovation – Đổi mới sáng tạo vì xã hội, một công cụ hỗ trợ tăng cường hiệu quả dịch vụ công. Retrieved from http://isos.gov.vn/in-tin-bai/tin-bai-41730.html

OECD. (2001). Social Sciences and Innovation. Paper presented at the Tokyo Workshop on Social Sciences and Innovation.

Paunov, C., & Planes-Satorra, S. (2021). Science, technology and innovation in the time of COVID-19. Retrieved from OECD publishing:

Paunov, C., Satorra, S. P., & Moriguchi, T. (2017). What role for social sciences in innovation? Re-assessing how scientific disciplines contribute to different industries. https://www.oecd-ilibrary.org/science-and-technology/what-role-for-social-sciences-in-innovation_8a306011-en

Schuch, K. (2019). The contribution of Social Sciences and Humanities to Social Innovation. In Atlas of Social Innovation – 2nd Volume: A World of New Practices (Vol. 2): oekoem verlag, München.

Trần, N. C. (2021). Đổi mới sáng tạo: Một số vấn đề cần quan tâm. Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam. Retrieved from http://vjst.vn/vn/tin-tuc/4442/doi-moi-sang-tao–mot-so-van-de-can-quan-tam-ky-1.aspx

ThS. Phạm Thanh Thúy Vy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.