Trong Tips 13 này tiếp tục giới thiệu với các bạn những kinh nghiệm về kỹ năng“đi và quan sát” trong nghiên cứu tại thực địa của PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc.

Đi và đến
 “Nhân học là đi đến những vùng xa lạ để hiểu hơn về nơi quen gần.” (Victor Turner)

Một trong những đặc trưng của các nhà nghiên cứu xã hội đó là đi để trải nghiệm. Nếu như đi mà không có sự trải nghiệm sâu sắc về cuộc sống của cộng đồng nghiên cứu thì có lẽ chúng ta chưa đạt được mục đích của chuyến đi nghiên cứu. Chuyến đi đó mới chỉ có ý nghĩa là đi du lịch, đi tham quan, đi chơi. Nguyên tắc tối quan trọng của các nhà nghiên cứu xã hội là đi để trải nghiệm, để dấn thân vào cuộc sống của cộng đồng mà chúng ta nghiên cứu. 
 
Để nghiên cứu một tộc người nào đó, trước tiên nhà nghiên cứu phải học cách chung sống và hành xử như họ. Nếu chưa làm được việc ấy thì chúng ta chưa đạt được yêu cầu của cuộc nghiên cứu vì chưa đặt trọng tâm vào sự trải nghiệm sâu sắc những giá trị văn hóa của cộng đồng tộc người mà chúng ta nghiên cứu. Do đó, nếu muốn đạt được kết quả tốt nhất chúng ta phải dấn thân vào cộng đồng để quan sát tham dự cuộc sống của họ, chúng ta không thể nghiên cứu nếu tự tách mình ra bên ngoài đối tượng nghiên cứu.
 
Các bước tiến hành cho một cuộc đi hay có thể gọi là một hành trình nghiên cứu:
 
» Xác định mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của cuộc nghiên cứu có thể dựa trên câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, hoặc sản phẩm cuối cùng cần đạt được của nghiên nghiên cứu là gì.

» Xác định những việc cần làm để đạt được kết quả mong muốn: các bước nghiên cứu tiến hành như thế nào, bạn sẽ cùng làm việc với ai, thời gian trong bao lâu (dự án nghiên cứu trong thời gian ngắn hạn hay liên tục trong nhiều năm).

» Thiết lập khung thời gian cho các hoạt động khác nhau: Các bạn cần có kế hoạch thời gian cho mỗi công việc càng cụ thể càng tốt. Công việc càng chia nhỏ và phân công người phụ trách cụ thể thì mức độ thành công càng cao. Đồng thời, chúng ta cần phải lường trước những khó khăn, rủi ro sẽ gặp phải. Người giữ vai trò chủ nhiệm dự án nên có bản mô tả công việc cụ thể cho từng thành viên trong cuộc khảo sát (TOR – Terms of Reference).
 
Phối hợp giữa những người giám sát, người hướng dẫn với những người tham gia.
 
» Chuẩn bị các thủ tục giấy tờ: Giấy xin phép cơ quan nhà nước, giấy giới thiệu, hợp đồng với các thành viên cơ quan phối hợp. Đưa ra những nội quy quy định các thành viên phải tuân thủ. 
 
» Các công việc hậu cần khác: Chuẩn bị phương tiện, phân chia chỗ ở cho các thành viên tham gia nghiên cứu. Chuẩn bị quần áo bảo hộ, các loại thuốc: chống côn trùng, chống say xe, chống đau bụng, chống nắng, … 
 
» Các thiết bị kỹ thuật cần thiết cho nghiên cứu thực địa theo từng chủ đề: Máy quay phim, chụp ảnh, ống nhòm, la bàn, bản đồ, …
 
Quan sát tham dự
 
Tôi xin kể một câu chuyện về người M’Nông, họ có rất nhiều tri thức bản địa về việc đỡ đẻ và dự đoán giới tính thai nhi trong bụng mẹ; Hay nếu là thai ngược thì họ có phương cách để xoay đầu thai lại. Vì là nam giới việc quan sát một sự kiện liên quan đến sinh nở dường như là điều bất khả thi đối với nhiều nền văn hóa. Vì vậy, tôi cũng chỉ nghe bà đỡ vừa kể vừa dùng các động tác diễn tả việc đỡ đẻ được thể hiện trên bụng của chính mình. Từ đấy, tôi phải tập cho mình một trí tưởng tượng về các công việc bà ấy đã đỡ đẻ như thế nào. Từ những trò chuyện như một cuộc quan sát gián tiếp, tôi sẽ biết được câu chuyện của mình tiếp theo sẽ phải làm gì. Tôi hỏi bà có xảy ra những trường hợp đứa trẻ chết non hoặc thai lưu, bên trạm y tế có phản ứng gì hay không. Bà kể khi đỡ đẻ bà không dùng găng tay hay gạc sạch, mà chỉ tận dụng những cái khăn trong gia đình được giặt sạch, cất kĩ mà thôi. Bên trạm y tế cũng gọi bà đến để phổ biến cho cách đỡ đẻ sạch và an toàn. Người ở trạm y tế cũng là người M’Nông được cử đi lên bệnh viện Chợ Rẫy để học. Từ việc quan sát và kết nối các sự việc trên, tôi đến gặp trưởng trạm y tế của thôn, chứng kiến ca đỡ đẻ ở trạm y tế. Đây là một ca sinh rất nhanh, chưa kịp đỡ đứa trẻ đã rớt ra ngoài, và đây là một ca sinh đẻ thuộc kiêng kị của người M’Nông vì chưa kết hôn mà đã sinh con. Người M’Nông sẽ không đỡ đẻ cho người phụ nữ này vì xem điều đó là xui xẻo cho họ. Chị trưởng trạm y tế sẽ đỡ đẻ cho ca này. Khi đỡ đẻ, chị sử dụng các biện pháp khoa học hiện đại để khám trực tiếp vào cơ quan sinh dục của người phụ nữ này. Đối với người M’Nông, điều này là tuyệt đối kiêng kị, kiêng kị tới mức là chỉ có người đỡ đẻ vào đỡ còn chị gái hay mẹ cũng không được vào, chỉ mang đồ phục vụ vào trước và sau đó đi ra khỏi phòng. Do đó bà thầy lang khám thai theo kiểu là chỉ sờ trên bụng và đoán theo kinh nghiệm. 
 
Qua câu chuyện ở trên, chúng ta thấy có hai cấp độ nghiên cứu. Một cấp độ là quan sát những hiện tượng có thể thấy được, nghe được, cảm nhận được từ chuyện mình là người để người ta làm ví dụ. Nói một cách khác chúng ta giống như máy quay phim, và còn hơn máy quay phim là chúng ta cảm nhận được như chúng ta là người trong cuộc. Sau đó, chúng ta phải mô tả sâu, chi tiết không bỏ sót một thứ gì hết. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở cấp độ hiện tượng có thể quan sát được thì những người bình thường cũng có thể làm được việc này không cần đến một nhà nghiên cứu. 
 
Cấp độ thứ hai trong quan sát đó là phải nhìn ra những gì vô hình hoặc bị che khuất phía sau những cái chúng ta nhìn thấy, từ đó tìm ra ý nghĩa xã hội của cộng đồng hay khuôn mẫu hành vi văn hóa của người mà chúng ta quan sát. Với câu hỏi như: Tại sao người H’Mông ở vùng này không đến trạm y tế, tìm đến bác sĩ, y tá, hộ sinh, mà họ vẫn còn đỡ đẻ tại nhà? Nhà nghiên cứu phải khám phá ra ý nghĩa của hành vi ấy, lý giải và trả lời cho câu hỏi ấy chứ không chỉ mô tả ở đây có bà mụ, bên kia có trạm y tế là xong. Nghĩa là nhà nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở mô tả bề mặt mà phải nhìn ra ý nghĩa bên trong của hiện tượng, sự việc với các lớp tri thức, văn hóa, niềm tin trầm tích vào nhau. 
 
Một khía cạnh khác, khi nghiên cứu, chúng ta thường tiếp xúc với những người có chức quyền, địa vị, mà thường bỏ quên những người yếu thế. Chúng ta thường có thói quen phỏng vấn những người có chức vụ, có địa vị cao ở xã, ấp/ thôn/ làng; trong gia đình thường sẽ là những người đàn ông và xem đó như là những tiếng nói đại diện cho cộng đồng chúng ta đang nghiên cứu. Những người yếu thế, những người nghèo trong xã, ấp/ thôn/ làng; những người phụ nữ quanh năm lo việc nhà, lo chuyện bếp núc chúng ta thường ít khi để ý đến họ và họ không có cơ hội để nói lên tiếng nói của mình. Đối với công việc nghiên cứu, mọi tiếng nói đều có giá trị như nhau, không thể cân đo đong đếm rằng ai sẽ là người đại diện cho tiếng nói chung, là người nắm giữ chân lý, là người diễn giải đúng nhất cho cả xã, ấp/ thôn/ làng mà chúng ta nghiên cứu. 
 
Như vậy, quan sát tham dự là một quá trình đi sâu tìm tòi, trải nghiệm từ đó cảm nhận và tìm thấy được những điều đã bị bỏ qua, bị làm ngơ, bị giấu kín, bị che khuất bởi một vấn đề nào đó. Vì vậy, nhà nghiên cứu giống như là người đi tìm những câu chuyện đã bị che dấu. Từ việc nghe, nhìn, cảm nhận, chúng ta đọc ra ý nghĩa các hiện tượng mà chúng ta quan sát. Đây là những kỹ năng nghiên cứu cần phải được rèn luyện từ thực tế nghiên cứu tại cộng đồng, chứ không phải trong một lúc hay đọc xong bài viết này là chúng ta có thể có được.
 
 

Add Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *