DI DÂN, RỦI RO VÀ MẠNG LƯỚI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CÔNG NHÂN NHẬP CƯ

PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc

Mở đầu

Nhìn một cách tổng quan về đời sống xã hội Việt Nam đương đại, chúng ta cần nhận thức rằng: từ sau thời kỳ đổi mới đến nay, Việt Nam thực hiện chính sách “mở cửa”, khuyến khích đầu tư nước ngoài. Các khu chế xuất, khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều. Đó được xem là thành tựu của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc quản trị và phát triển đất nước từ sau thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, việc nhận diện một cách cụ thể sự hưởng thụ các dịch vụ y tế, nhà ở, giáo dục và vấn đề bảo trợ xã hội khi gặp rủi ro của người công nhân, lao động – một lực lượng trọng yếu mang tính quyết định cho sự thành bại của chính sách phát triển – dường như còn là điều bỏ ngỏ, chưa được những người hoạch định chính sách quan tâm một cách thích đáng. Chúng tôi tự hỏi có hay không cái gọi là sự bất bình đẳng đối với những người công nhân trong việc thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi xã hội? Bởi thực tế, đa phần công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp là những người di cư từ nông thôn ra thành thị mưu sinh. Sự bần cùng hóa cả về mặt điều kiện sống, vật chất, lẫn tinh thần, càng trầm trọng hơn đối với những trường hợp nữ công nhân nhập cư. Nghiêm Liên Hương đã cho rằng: “Di cư có thể được coi là một đặc điểm của xã hội tư bản, đẩy người phụ nữ ra khỏi gia đình và buộc họ tìm việc tại các nhà máy ở trong thành phố. Viết về công nhân nữ của châu Á, các nhà nhân học đã kết nối giữa công nghiệp hóa và hộ gia đình, mối liên kết này thường đề cập một cách ẩn ý đến động lực của di cư. Các nghiên cứu này cũng muốn nhìn họ trong mối quan hệ với người thành phố, cả nam lẫn nữ, cả đồng nghiệp công nhân lẫn quản lý và cả với nam lao động di cư. Các công trình nghiên cứu này cũng phân tích động lực di cư và lợi ích của di cư đối với nữ công nhân để làm rõ nét việc hình thành bản sắc nông thôn trong môi trường thành thị”. (Nghiêm Liên Hương, 2010)

Sự bần cùng của những người lao động có thể nằm ở những điều tưởng chừng như giản đơn nhưng lại gắn bó thiết thực đến đời sống của họ như: việc khám chữa bệnh; việc trang trải sinh hoạt hằng ngày: ăn, mặc, ở,…; và vấn đề giáo dục cho con cái của họ cũng như cho chính bản thân họ (Nguyễn Đức Lộc, 2012); đời sống tinh thần đơn điệu, thiếu cơ hội mở rộng mạng lưới xã hội và hình thành vốn xã hội (Nguyễn Minh Hòa, 2005: 86). Ngoài chuyện ăn ở, học hành cho cho bản thân và con cái, người công nhân hiện nay còn phải đối mặt với nhiều yếu tố rủi ro khác như sức khỏe, việc làm,… Họ đã và đang tự đưa ra những kế hoạch để kiểm soát, giảm thiểu các hệ lụy của cuộc sống khó khăn để từ đó, họ có thể tiếp tục bám trụ với công việc trong cuộc mưu sinh. Tuy những đóng góp thầm lặng của những người công nhân nhập cư vào sự phát triển kinh tế địa phương rất lớn, nhưng dường như, những chính sách quan tâm đến lực lượng công nhân của các chính quyền địa phương cho đến lúc này đều chưa thỏa đáng. Chính vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng việc tìm kiếm một thái độ ứng xử tích cực hơn với người công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong giai đoạn hiện nay là điều cần thiết và cấp bách.

Bài viết này là kết quả quá trình nghiên cứu của chúng tôi về đời sống công nhân tại tỉnh Bình Dương từ năm 2011 đến 2013. Với các tuyến khảo sát được tiến hành trong quá trình nghiên cứu, như: thu thập thông tin định lượng (bảng hỏi anket) và thu thập và xử lý thông tin định tính (thu thập dữ liệu thứ cấp và quan sát tham dự). Tổng mẫu khảo sát định lượng bao gồm 800 đơn vị mẫu được phân bổ đồng đều giữa bốn địa bàn nghiên cứu tập trung đông đảo công nhân đang sinh sống và làm việc tại các doanh nghiệp, trong đó: thị xã Dĩ An (200 đơn vị mẫu), thị xã Thuận An (200 đơn vị mẫu), huyện Bến Cát (200 đơn vị mẫu) và huyện Tân Uyên (200 đơn vị mẫu). Mỗi thị xã/huyện lại chọn hai xã/thị trấn theo tiêu chí một nằm gần trung tâm khu công nghiệp, một nằm ở ngoại vi khu công nghiệp. Ở cấp xã/thị trấn chúng tôi lại tiếp tục chọn hai khu phố/ấp, mỗi phố/ấp sẽ chọn ra 50 công nhân trong tổng số công nhân đang có trên địa bàn bằng cách tiến hành chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên có hệ thống theo danh sách công nhân tạm trú được các địa phương cung cấp. Sở dĩ, chúng tôi chọn địa bàn nghiên cứu như vậy vì mỗi địa bàn kể trên có những đặc điểm riêng và mang tính đại diện cho loại hình các khu công nghiệp tại tỉnh Bình Dương (xét cả hai chiều kích không gian phân bố và quá trình hình thành). Việc tiến hành khảo sát cùng lúc bốn địa bàn giúp chúng tôi có được cái nhìn so sánh, đối chiếu, đồng thời từ đó có thể khái quát được bức tranh chung về hiện trạng đời sống công nhân tỉnh Bình Dương.

Đọc thêm: SocialLife Journal No.4

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.