Văn chương là một hành động sáng tạo cá nhân. Nhưng khi được công bố trước giới độc giả, văn chương đi vào quá trình giao tiếp. Quá trình giao tiếp trong ý nghĩa rộng nhất của nó, khơi gợi cho chúng ta nhiều suy tưởng, đặc biệt khi đặt sản phẩm sáng tạo cá nhân này trong mối tương quan với những hình thức thực hành xã hội khác.

Vấn đề quan hệ giữa văn chương và các khoa học học xã hội và nhân văn ngày nay dường như không còn là cuộc bàn luận mới mẻ. Với khuynh hướng kiến lập những phương pháp tiếp nhận liên ngành trong nghiên cứu khoa học, người ta lại càng có lý do và căn cứ để gắn kết văn chương vào những lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội và nhân văn, như xã hội học, nhân học, triết học. Từ đây, chúng ta có thể nói đến những tương quan phong phú nảy sinh từ những sự kết hợp này. Hàng loạt các vấn đề của thế giới tưởng tượng đối diện với các lãnh địa thực chứng và các thế giới khả dĩ. Tác phẩm văn chương trở thành một phòng thí nghiệm để quan sát sự vận hành của cá nhân và xã hội.

Hơn nữa, khi quan sát thế giới tưởng tượng trong một viễn tượng vượt ra khỏi ranh giới địa lý quốc gia, chúng ta sẽ thấy sự phát triển và tiến hóa trong hoạt động viết cũng như hành động kiến tạo căn tính xã hội và cá nhân từ hoạt động này. Paul Ricœur đã phát minh ra một lý thuyết căn tính tự sự, cho phép chúng ta khám phá trong kết cấu tự sự những chiến lược biểu hiện của căn tính. Theo đó, khi nói đến tác phẩm văn chương, chúng ta thường nói đến sự sáng tạo, quá trình sản sinh và sự tiếp nhận của nó. Nó đưa yếu tố thời gian vào truyện kể, đồng thời khôi phục hình ảnh của người viết với tư cách là chủ thể. Ngôn ngữ là tác nhân trung giới của sự diễn đạt chiều kích thời gian, là mối liên kết giữa truyện kể, thời gian và chủ thể. Từ đó, chúng ta có thể nói đến căn tính tự sự. Và cũng vậy, giữa hoạt động kể một câu chuyện và đặc tính thời gian của kinh nghiệm con người, luôn có một mối quan hệ thể hiện một hình thái nào đó về sự cần thiết mang tính xuyên văn hóa. Nói đúng hơn, tác phẩm văn chương, ở một mức độ nào đó, là một quá trình chủ thể hóa và cũng là một minh chứng vén mở thế giới sáng tạo của các chủ thể với tư cách là các tác nhân của đời sống xã hội.

Tiến trình xây dựng căn tính càng trở nên sâu đậm hơn đối với những tác giả phải trải qua những hành trình chuyển dịch về không gian và thời gian. Chủ thể đi vào hành trình của các chiều kích không-thời gian, văn hóa và cấu trúc, đồng thời tạo nên sự vận hành của kinh nghiệm trong sự phong phú của nó. Tự sự hay rộng hơn, thiết lập một diễn ngôn, là một phương tiện ưu việt để tạo nên cho kinh nghiệm sống trải một ý nghĩa. Kể về hành trình chuyển dịch như trong trường hợp của nhiều nhà văn đương đại, chính là cuộc truy nguyên một hình ảnh huyền bí của bản thân mình; đó là tạo cho sự tồn tại của mình một sự cố kết và liên tục: gợi lại và tình tiết hóa những ký ức trong hành động tự sự là phóng chiếu trên chúng một ánh sáng mới mẻ. Đây là sự sáng tạo ý nghĩa luôn tồn tại trong hoạt động tự sự. Văn chương, cho đến cùng, vẫn là tự sự. Trong diễn trình của tự sự, chủ thể cho thấy các chiến thuật khác nhau về căn tính, và qua đó, hình thành nên chính sử tính của mình với tư cách là tác nhân xã hội: một quá trình phát minh ra bản ngã hay các bản ngã khả dĩ.

Chúng tôi muốn giới thiệu Linda Lê như một trong số những tác giả đương đại biểu hiện rõ nhất sự tiếp cận với bản ngã theo cách đó. Tác giả đã khẳng định một thế giới riêng trong không gian văn học Pháp ngữ và văn học Pháp. Thế giới sáng tạo của Linda Lê thường mang sắc thái của những âm vang về quá khứ buồn, nhưng không thiếu những chất vấn rất thời sự về những hiện tượng con người như đau khổ, cùng quẫn và định mệnh u ám của bản chất con người. Tổng thể tác phẩm của Linda Lê cho đến thời điểm hiện nay là một sự dung nạp của một lối viết, một mạch suy tưởng để có thể đạt đến “thế giới xa lạ tìm kiếm cái mới mẻ”. Viết đối với tác giả như một cuộc đi xuống, một hiện tượng siêu nghiệm để quan sát một cách tốt nhất dung mạo một thế giới tràn ngập những tha hóa, rạn nứt, biến hình của chủ thể cá nhân và chủ thể cộng đồng. Nơi nhà văn, cái tôi ngôi vị luôn tan biến và sáp nhập vào những hình bóng và vong linh khác để trải nghiệm cuộc đời trong hư vô: Từ nay ta chỉ là một vong linh giữa những vong linh khác. Thế thì ta chỉ việc im lặng, chỉ việc thay văn bia mộ chí đọc thầm cho mình những vần thơ này: Ta muốn người đời vu khống ta đến tận nấm mồ/ Ta còn muốn sau nấm mồ người đời vẫn thấy ta hư vô, hay ta chỉ việc tin rằng mình sẽ không trôi dạt nơi vực thẳm như kẻ bị sa địa ngục muôn đời lạc lõng giữa Đông và Tây (Lame de fond, tr. 277).

Nghiên cứu một nhà văn như thế từ góc độ xã hội học sẽ giúp chúng ta mở ra những viễn tượng quan sát phong phú: nhà văn với tư cách là tác nhân xã hội tham gia vào tiến trình phát minh và xây dựng căn tính cá nhân và cộng đồng, đồng thời cho phép suy tưởng về lịch sử tính với yếu tố ký ức như là sức mạnh gắn kết con người trong thời gian. Tưởng tượng và tự sự vì thế sẽ là những phương tiện của sự kiến tạo vô tận.

 

TS Phạm Văn Quang – Đại học KHXH & NV – Đại Học Quốc Gia TP HCM

 

 

 

Add Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *