NHỮNG NHÀ VĂN DI DÂN VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Lịch sử Hoa Kỳ nói cách khác là lịch sử di dân. Từ thế kỷ XVI, khi người Tây Ban Nha, Pháp, Anh đặt chân đến lục địa Hoa Kỳ, và tiếp theo sau đó là các dân tộc khác từ châu Âu, châu Phi, châu Á…Hoa Kỳ là “nơi mọi thứ hòa trộn” (“melting pot”) và “tất cả chúng ta đều là di dân”. Từ khoảng 1960, châu Âu  không còn là nguồn cung cấp chủ yếu sang Mỹ nữa mà thay vào đó là châu Á và châu Mỹ Latin.

Cộng đồng Việt Nam di dân tại Mỹ có khoảng hơn 1,5 triệu người [7], chiếm hơn một nửa số lượng người Việt Nam di dân trên toàn thế giới.Là cộng đồng di dân lớn thứ 7 ở Mỹ và thứ 4 trong cộng đồng di dân châu Á ở Mỹ, có vận tốc hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ khá nhanh và rất thành công.Người Mỹ gốc Việt là một trong những nhóm người nhập cư mới nhất tại Hoa Kỳ, cho nên là nhóm có tỷ lệ người lai chủng tộc khác thấp nhất trong các nhóm người Mỹ gốc Á châu chính. Theo điều tra năm 2000, có đến 1.009.627 người 5 tuổi trở lên tự khai rằng họ nói tiếng Việt ở nhà, tiếng Việt đứng thứ 7 trong những ngôn ngữ phổ thông tại Hoa Kỳ. Người Việt tại Mỹ sinh sống nhiều nhất ở các tiểu bang California (Orange County, San Jose), Virginia, Texas (Houston)…

“Người sáng tác bằng tiếng Việt ở Hoa Kỳ hầu như chỉ có độc giả người Việt tại Hoa Kỳ đọc được. Người viết bằng tiếng Anh tuy có cái lợi hơn là được độc giả Âu-Mỹ đọc nhưng số độc giả người Việt đọc họ phải nói là rất hiếm hoi. Nhưng họ có một mẫu số chung, và đây là một điều đáng tiếc: sách của họ hầu như không được độc giả Việt trong nước biết tới”[8]. Trừ một vài trường hợp hiếm hoi: Nguyễn Mộng Giác in sách trong nước (Sông Côn mùa lũ), Lữ Quỳnh, Trần Hoài Thư, Trần Mộng Tú có một ít truyện ngắn trong các tuyển tập trong nước…Khác với các nhà văn di dân ở châu Âu, mức độ phổ biến tác phẩm của họ nhiều hơn (Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Thọ, Thuận, Linda Lê, Đoàn Minh Phượng, Miêng… đều có sách in và độc giả trong nước).

Thế hệ nhà văn một và một rưỡi (1st generation và 1.5 generation) thường viết bằng tiếng Việt như Nhã Ca, Trùng Dương, Trần Mộng Tú, Bùi Bích Hà, Lê Thị Huệ, Đặng Thơ Thơ… Thế hệ nhà văn thứ hai (2nd generation) thường dùng tiếng Anh như Monique Truong, Bich Minh Nguyen, lê thi diem thuy, Barbara Tran, Christian Langworthy, Mong-Lan, Le Bi, Thuong Quan, Khe Iem, Linh Dinh, Do Kh., Nguyen Qui Duc, Aime Phan, Angie Chau, Mai Elliot… Cá biệt có người dùng cả hai ngôn ngữ để viết văn như Phan Nhiên Hạo, Đỗ Lê Anh Đào.

Không thể so sánh với Linda Le ở Pháp hay Nam Le ở Úc về mức độ nổi tiếng trên văn đàn “dòng chính”, nhưng những nhà văn VN viết bằng tiếng Anh ở Mỹ cũng trở thành một lực lượng hùng hậu của văn học di dân Việt Nam, và trên một mức độ nào đó, cũng là một đóng góp vào văn học “dòng chính” của Mỹ.

Thế hệ những nhà văn khá lớn tuổi viết văn dòng chính ở Mỹ có lẽ bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ XX.Có thể kể trước hết là Le Ly Haslips với tác phẩm When Heaven and Earth Changed Places (Khi Trời và Đất đổi chỗ) xuất bản năm 1989. Cuốn sách này được báo chí khen ngợi như báo Los Angeles Times đăng trích từng kỳ, báo New York Times Book Review cũng trích đăng, cuốn sách thứ hai: Child of War, Woman of Peace (Trẻ em của chiến tranh, phụ nữ của hòa bình) xuất bản năm 1993 được báo Publisher’s Weekly nhận xét: “Gây sốc và gây cảm hứng ngay lập tức… mang kịch tính và sự ghê rợn, với những quan sát hết sức sắc bén về những nạn nhân Việt Nam và Mỹ trong cuộc chiến tranh”. Dựa trên hai cuốn sách này, Oliver Stone đã dựng thành bộ phim Trời và Đất.

Nhà văn thứ hai, trẻ hơn, là Dương Văn Mai Elliott với cuốn sáchThe Sacred Willow: Four Generations in the Life of a Vietnamese Family (Cây liễu linh thiêng: Bốn thế hệ trong cuộc đời một gia đình Việt Nam) thực chất không hẳn là một cuốn tiểu thuyết mà là một cuốn sách điều tra, nhưng được nhìn dưới mắt một tiểu thuyết gia, nói về kinh nghiệm của một người sống trong một gia đình Việt Nam có bốn thế hệ và qua đó phơi bày dòng chảy lịch sử Việt Nam. Dựa trên những gia phả, ghi chép gia đình, những cuộc phỏng vấn và nghiên cứu khác nhau, cuốn sách này không chỉ là một kỷ niệm gia đình, mà còn là một ghi chép bằng cách nào mà người Việt Nam trải qua những năm tháng của chính mình.Cuốn sách của Mai Elliott đã được đề cử giải Putlizer năm 2000. Cô còn là người dịch hồi ký của bà Nguyễn Thị Định ra tiếng Anh.

Lan Cao là một luật sư hiện đang giảng dạy môn luật quốc tế ở trường đại học luật William và Mary.Cuốn sách nổi tiếng của cô là Monkey Bridge (Cầu khỉ) xuất bản năm 1997.Nhiều nhà phê bình cho rằng phong cách của cô chịu ảnh hưởng từ cuốn Nữ chiến binh (The Woman Warrior) của Maxine Hong Kingston.Cô cũng là đồng tác giả cuốn Everything You Need to Know about Asian American History (Tất cả những gì bạn cần biết về lịch sử người Mỹ gốc Á) với Himilce Novas.Cầu khỉ viết về thân phận của hai người phụ nữ, hai mẹ con Thanh và Mai di dân đến Mỹ năm 1975 với những chủ đề chính: nỗi cô đơn, nhớ nhà, xa cách chồng và cha, sự hòa nhập khó khăn về ngôn ngữ và văn hóa của người Việt trên đất Mỹ, khoảng cách thế hệ…Tờ Chicago Tribune nhận xét: “độc giả phương Tây may mắn có Lan Cao với tác phẩm đi qua cuộc chiến chạm đến nỗi đau trái tim của Việt Nam”.

Thế hệ trẻ hơn, được gọi là thế hệ 1.5 hay 2 cũng có một số nhà văn chọn viết bằng tiếng Anh, như Monique Truong, Andrew Lam, Lê Thị Diễm Thúy, Dao Strom, Aime Phan, Angie Chau… cùng với một số nhà văn kiêm nhà phê bình viết bằng tiếng Anh như Issabela Thuy Paulaud, Nathalie Huynh Chau Nguyen, Ton Nu Nha Trang, Rebekah Linh…

Nhà văn Việt Nam có lẽ nổi tiếng nhất ở Mỹ là Monique Trương (như Linda Le ở Pháp), sinh năm 1968 ở Saigon, cùng với gia đình di tản sang Mỹ sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975. Là tác giả của hai tiểu thuyết The Book of Salt (Sách muối) và Bitter in the Mouth (Đắng nghét trong miệng).Khi trở thành nhà văn, cô đã bỏ nghề luật.Ngoài đời, Monique Truong là một người phụ nữ rất thích ẩm thực.Cô cảm nhận mùi vị thức ăn trước hết là trong tâm trí mình, sau đó mới là ngoài đời.Cô tiếp cận một công thức nấu ăn như là một câu chuyện.Cả hai cuốn tiểu thuyết của cô đều liên quan đến ẩm thực như một chi tiết văn hóa, hoặc một ẩn dụ văn học.

Trong cuốn Sách muối(nxb Houghton-Mifflin, 2003), nhân vật chính là Bình, một đầu bếp, làm việc ở Pari, sau đó sang Mỹ, quay trở về Việt Nam. Tên sách, ban đầu khi mới viết năm 1997, có tên là Seeds – Hạt (cũng liên quan đến ẩm thực), sau đó, cô quyết định đổi tên là Book of Salt.Muối, có hầu hết trong thực phẩm, trong nước mắt, và biển, được tìm thấy khắp nơi trong cuốn sách. Trong tiếng Anh, “lương” (salary) là lấy từ chữ “salt”, vậy thì muối ở đây, là một cách hiểu khác của sức lao động, của giá trị, của sự đáng giá. Cuốn này được trao tặng nhiều giải văn chương giá trị ở Mỹ như của Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ năm 2004, nhận được tài trợ để sáng tác của PEN American Robert Bingham Fellowship, Hodder Fellowship của đại học Princeton và Guggenheim Fellowship.

Còn trong Bitter in the Mouth (nxb Random House, 2010), nhân vật chính là Linda, người có vấn đề về diễn đạt ngôn ngữ.Cuốn thứ hai được giới phê bình đánh giá rất cao.Nghệ thuật vượt hẳn cuốn trước.

Ở Việt Nam, những từ biểu hiện hạnh phúc và chịu đựng thường được dùng những từ mang tính chất nếm trải (vị giác). Hạnh phúc thì thường ngọt bùi, chịu đựng thì dùng đắng cay, chua cay, khổ quá…Với Đắng nghét trong miệng, M. Truong đã khám phá kinh nghiệm của một người thông qua văn học. Nhân vật chính: Linda Hammerick, chịu đựng một căn bệnh rối loạn giác quan rất hiếm: cô trở thành người nổi tiếng nhìn một từ và đoán vị của nó, cách biệt và độc lập với nghĩa của chúng: khi cảm giác bị kích thích bởi một sự vật lập tức có cảm giác hay nhận thức về một sự vật khác (chứng “synesthesia”), ví dụ khi nhìn một con chữ Linda lập tức cảm nhận được mùi vị của một món ăn. Chẳng hạn chữ “you” cho Linda những mùi vị của đậu hột đóng hộp, chữ “home/nhà” gợi mùi vị nước ngọt Pepsi, nghe từ mẹ, cô nghĩ đến sô cô la (từ chocolate là từ Aztec xocolatl có nghĩa là nước đắng). Thử thách của Linda, cũng là bí ẩn trung tâm của câu chuyện, là làm cách nào tháo gỡ rối loạn vị giác của cô, vứt bỏ cái đắng cay từ cái ngọt bùi.

Bitter in the Mouth đưa ra một cái nhìn khác biệt về vấn đề khủng hoảng bản ngã, nhất là bản ngã của người nữ di dân, vô xứ so với quan niệm thông thường của trí thức, nhà văn Mỹ đã có trước đây. Monique Trương cho thấy cuộc tìm kiếm bản ngã của một người sinh ra ở một nơi và trưởng thành ở một nơi không phải là quê hương là một lộ trình không có điểm dừng, điểm tận cùng, không có một kết thúc chỉn chu, thỏa mãn mà chỉ là một sự cần thiết, một sự chẳng đặng đừng.

Tạp chí Booklist đưa ra nhận xét về Bitter in the Mouth: “Hấp dẫn…Trương là một người kể chuyện tài tình, và trong quyển tiểu thuyết yên vắng nhưng đầy sức mạnh này cô đã sáng tạo một nhân vật đáng chú ý và độc đáo.” Nhà văn nữ Jayne Anne Phillip thì cho rằng “Quyển Bitter in the Mouth, mỗi chữ đều mặn mà, là một tỏ bày của sự thông minh dí dỏm, của trái tim, và của tài năng tuyệt vời.” Nhà văn nữ gốc Trung Quốc Yiyun Li, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng Ngàn Năm Thiện Nguyện thì khuyên người đọc hãy “chuẩn bị hưởng một hàng đầy ắp những mùi vị của cuộc sống trong Bitter in the Mouth: đó là những mùi vị của tình bạn, lòng chung thủy, tình yêu, gia đình, và trên hết thảy là của những bí mật nằm ở mỗi góc của lịch sử một con người, những bí mật đã làm thành con người chúng ta. Monique Trương là một người quan sát giỏi và một nhà văn tuyệt mỹ.”[9]

Lê Thị Diễm Thúy với cuốn The Gangster We Are All Looking for (Tên du đãng chúng ta đang tìm kiếm) cũng là một nhà văn trẻ và cuốn sách của cô khi phát hành cũng gây xôn xao như tác phẩm của Monique Truong (nói thêm ngoài đề là Le thi diem thuy đã về Việt Nam và có giới thiệu cuốn sách này). Ngay từ trang đầu, thuy đã viết: “ Trong tiếng Việt, chữ để chỉ nước (water) và chữ để chỉ 
một quốc gia (a nation), một xứ sở, và một quê hương đều cùng 
một chữ nước.” Quyển sách tương đối mỏng, chỉ 158 trang, chia 
làm 5 chương: Suh-top! (lối phát âm chữ Stop của người mới bập 
bẹ tiếng Mỹ), Palm (hiểu theo hai nghĩa vừa là cây cọ vừa là 
lòng bàn tay), Tên Du Đãng Tất Cả Chúng Ta Đang Lùng Kiếm, 
Xương Chim, và chương cuối cùng : Nước (tác giả để nguyên chữ 
viết Việt trong sách). Toàn bộ cuốn sách với nhân vật chính chính là tác giả, kể về những ngày tháng đặt chân lên đất Mỹ, cuộc sống vất vả của những di dân, ước mơ và khát vọng thay đổi. Cuối cuốn sách là chuyến quay trở về Việt Nam sau 20 năm xa cách của chính tác giả.

Nhà phê bình Đào Trung Đạo nhận xét: “Điểm trân trọng ở thuy là một 
người trẻ Việt Nam di dân đã nói lên tiếng nói tự bản thân, gia đình, trái 
tim mình về chiến tranh, và về “nước” 
Việt Nam. Về kỹ thuật viết, vì lê thị diễm thúy là 
một nghệ sĩ trình diễn nên cô chưa thể có tay nghề của một nhà tiểu thuyết 
được học hỏi chính qui. Nhưng cô đã viết ra những trang 
sách đẹp, đọc dễ dàng, gây xúc động mạnh.  Điểm cuối cùng 
và cũng là điểm son của lê thị diễm thúy: sách tuy viết bằng tiếng
Anh nhưng ở nhiều chỗ cô vẫn để nguyên một số từ tiếng Việt. Chẳng hạn chữ 
“nước” lê thị diễm thúy đã nhắc tới. Và còn những từ con cái xưng 
hô với cha mẹ: “Má”, “Ba”, phở 
để nguyên từ tiếng Việt… Khi đọc The Book of Salt chúng ta cũng thấy Monique Trương đã để nguyên những 
từ như Má, áo dài, phở, Anh …trong cuốn sách của mình.Việc sử dụng nhiều ngôn ngữ trong tiểu thuyết mở ra 
những khả tính mới cho ngôn từ: càng du nhập và 
đồng hóa nhiều ngôn ngữ đa văn hóa bao nhiêu thì sẽ càng trở 
nên phong phú bấy nhiêu. Phần đông những nhà văn di dân nổi tiếng ngày nay tuy họ sử 
dụng tiếng Anh để sáng tác nhưng đa số không bao giờ nhận mình là 
một nhà văn Mỹ hay một nhà văn Anh. Toni Morison, giải thưởng 
Nobel Văn chương luôn gọi mình là một nhà văn Mỹ 
gốc Phi châu (African-American writer), Salman Rushdie không bao giờ 
chấp nhận người ta gọi mình là một nhà văn Anh hay một nhà 
văn châu Âu. Văn chương Mỹ hiện đại 
đã phải chấp nhận một thứ Spanglish mới cũng như đã phải 
chấp nhận một thứ tiếng Anh của người da đen từ hơn nửa thế kỷ 
nay. Mười năm trở lại đây những nhà văn thuộc thế hệ mới như 
Sandra Cisneros, Julia Alvarez, Denise Chavez…đã mạnh dạn tiếp 
tục bước theo lớp những nhà văn di dân tiên phong thế hệ 
trước, đem vào tiểu thuyết mới những sắc thái văn hóa đa chủng trong đối thoại, trong văn phong, trong xây dựng nhân vật…và 
sách của họ đã được đông đảo quần chúng độc giả cũng như 
những nhà phê bình văn học mến mộ và cũng đã được đưa vào những 
cuốn văn tuyển dùng trong các trường trung và đại học”[10].

Do khuôn khổ một bài báo cáo, chúng tôi không thể viết dài hơn về các nhà văn di dân Việt Nam viết bằng tiếng Anh thêm nữa. Chỉ xin liệt kê thêm một vài gương mặt nổi bật khác.

Dao Strom vừa là một nhà văn, vừa là một ca sĩ, nhạc sĩ.Cô là con gái của nhà văn, nhà báo Trùng Dương nổi tiếng một thời ở Sài Gòn trước 1975. Là tác giả của hai tập truyện ngắn Grass Roof, Tin Roof, (Nhà tranh, Nhà sắt, Houghton Mifflin/Mariner books, 2003) và The Gentle Order of Girls & Boys, (Mệnh lệnh hòa nhã của con trai và con gái, Counterpoint press, 2006)

Bich Minh Nguyenvới hồi ký Stealing Buddha’s Dinner (Trộm đồ cúng Phật) do nhà Penguin xuất bản đầu năm 2007 được trao giải thưởng PEN/Jerard của Trung tâm PEN American.Cô kể lại chuyến đi rời bỏ quê hương, kinh nghiệm một di dân Á châu trên đất Mỹ, cuộc sống pha trộn nhiều sắc thái văn hóa khác nhau trong gia đình, tình cảm thương mến đậm đà dành cho Nội với những món ăn thuần túy Việt Nam như phở, chả giò, giá, tôm rang, canh chua… Nội đã cho cô bé ăn và nhất là bàn thờ Phật của Nội có bày hoa quả và những món chay cúng Phật cô bé đã có lần ăn trộm.

Angie Chau với tập truyện ngắn Quiet As They Come (Âm thầm họ đến), nxb IG Publishing, 2010.

Aime Phan với tác phẩm đầu tayWe Should Never Meet (Chúng ta đừng nên gặp nhau), được giải Sách Quý của Kiryama Prize về tiểu thuyết và vào chung khảo giải Văn chương Mỹ gốc Á năm 2005 (Asian American Literary Awards). Tác phẩm của cô xuất hiện trên The New York TimesUSA Today và The Oregonian.Hiện là giáo sư phụ tá tại California College of the Arts.

Với tham vọng là một công trình dài hơi hơn, chúng tôi hy vọng sẽ có điều kiện tìm hiểu và giới thiệu rộng rãi hơn nữa chân dung, diện mạo của văn học di dân các nước Đông Á tại Hoa Kỳ. Nên gọi mảng văn học này thuộc văn học Hoa Kỳ, hay thuộc văn học dân tộc?Có lẽ nội dung trong các tác phẩm mà chúng tôi giới thiệu trên đây đã nói lên điều đó.Nói riêng trong văn học Hoa Kỳ, đóng góp của họ là không thể phủ nhận. Trong thời đại toàn cầu hóa và trong trào lưu dân chủ của 
thiên niên kỷ mới này hướng phát triển ảnh hưởng văn hóa 
kinh tế chính trị ngày nay không phải từ nước Mỹ tỏa rộng ra thế 
giới như trong 50 năm trước nữa mà nay ảnh hưởng này có xu 
hướng đi ngược lại: chính từ những di dân đến đây đã mang vào 
ngay trong lòng nước Mỹ những nét văn hóa bản xứ. Họ đã đóng 
góp tài năng trí tuệ vào nền văn hóa kỹ thuật tạp chủng của Mỹ, biến nền văn hóa mở này có tính cách toàn cầu hơn.Đó là một điều không thể tránh được, không thể ngăn cản.Văn học đã trở thành toàn cầu, không biên 
giới.Đi hàng đầu là nền Văn học Di Dân đã phát triển vững 
mạnh và trở thành trào lưu văn học chính yếu trên thế giới 
từ hơn hai thập niên gần đây.

Xét riêng trong văn học nước nhà, như đã giới thiệu ở phần đầu, những nhà văn Việt Nam sinh sống tại châu Âu được công chúng trong nước biết đến nhiều hơn những nhà văn Việt Nam sinh sống tại Hoa Kỳ. Do đó trong tương lai, chúng tôi hy vọng những giới thiệu của mình sẽ giúp cho công chúng Việt Nam tiếp cận gần hơn với các nhà văn này.

 Trần Lê Hoa Tranh
Nguồn: trích đăng từ http://phebinhvanhoc.com.vn/van-hoc-di-dan-viet-nam-trong-boi-canh-van-hoc-di-dan-cac-nuoc-dong-a-tai-hoa-ky/

TƯ LIỆU THAM KHẢO

1. Images of Asian American Women by Asian American Women Writers – Esther Mikyung Ghymn, Peter Lang Pub 1995

2. Filthy Ficton, Asian American Literature by Women– Monica Chiu, Altamira Press 2004

3. Asian American Literature, Reviews and Criticism of Works by American Writers of Asian Descent, Laurence J.Trudeau, Editor, Gale Research 1999.

4. Asian-American Writers (Bloom’s Modern Critical Views) by Harold Bloom (Editor),

 Infobase Publishing 2009

5. Reading Asian American Literature,Sau-ling Cynthia Wong, Princeton University Press 1993

6. Encyclopedia of Asian American Literature, Seiwoong Oh, Infobase Publishing 2007

7. Asian-American Women Writers (Women Writers of English and Their Works),

Harold Bloom, Chelsea House Pubisher 1997.

8. Asian American Literature, Bella Adams, Endinburg University Press, Ltd, 2008

9. http://www.austinchronicle.com/gyrobase/Issue/story?oid=oid%3A36348

10. http://www.bichminhnguyen.com/

11. http://nghilocquetoi.net/news/Giai-Tri/Chan-dung-nguoi-My-goc-Viet-qua-Census-2010-1014/

12. Project Diaspora, Nguyễn Mộng Giác, chương trình của William Joiner Center tài trợ năm 2001-2002: Sơ thảo về các giai đoạn thành hình và phát triển của giòng văn xuôi ở hải ngoại từ 1975 đến nay.

13. Đào Thiện Đạo, “Nhà/quê nhà trong Văn chương vô xứ Việt Nam”gio-o.com

14. http://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_kiều

15. “Đọc The Book of Salt của Monique Truong”, Đào Trung Đạo, gio-o.com

16. http://www.viethome.co.uk/Nguoi-Viet-Hai-Ngoai/nhung-con-so-nong-ve-nguoi-viet-o-my.html

Add Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *