1. Sự tiếp nối sau cái chết và công trình của văn hóa trong một xã hội Phật giáo

Khi một người nhìn vào một thi hài và nhận ra rằng, một ngày nào đó mình cũng sẽ là một thi thể bất động, có vẻ như người đó sẽ đi đến một kết luận rằng chết là hết. Và nếu thi hài kia là của một người là trung tâm, là tất cả cuộc sống của người nọ, anh/chị ấy sẽ trải qua một cảm xúc thật sâu sắc về sự tuyệt vọng và vô vọng hoàn toàn. Đối đầu với cái chết của người khác cũng làm cho chúng ta có thể tưởng tượng được cái chết của chính mình. Cuộc đời của một con người, bắt đầu từ khi sinh ra cho đến cái kết cục được tưởng tượng đó, kết hợp với sự thương đau mà chúng ta trải qua khi đối diện với cái chết của một người quan trọng đối với chúng ta, dường như sản sinh ra trong lòng mỗi con người trưởng thành một ý niệm về cái chết, một cảm giác không thể chối cãi về việc cái chết sau cùng sẽ đến với ta.

Mặc dù sự chuyển biến không thể tránh khỏi từ một người sống thành một tử thi đang phân hủy làm cho chúng ta không thể phủ nhận rằng cái chết đã làm gián đoạn cuộc đời của con người, nhưng tư tưởng của con người trên khắp thế giới đã luôn bị ép phải thừa nhận rằng sự gián đoạn này không phải là một cái kết tuyệt đối. Thật ra, trong từng truyền thống văn hóa, tính kết thúc của cái chết không chỉ bị từ chối, mà người ta còn luôn quả quyết về một cảm giác về sự tiếp nối với “cái đã qua trước đó và cái sẽ tiếp diễn sau các mạng sống con người có hạn kì của chúng ta”(Lifton 1979:17) (Leach 1961:125; Bloch và Parry 1982:9ff).

Lifton (1979:17) đã chiêm nghiệm rằng cái cảm giác về sự tiếp tục này bắt nguồn trong “sự trải nghiệm của cá nhân trong việc tham gia vào một số loại hình cuộc sống-tiếp diễn của cộng đồng.” Khi chúng ta sinh ra đời, chúng ta sở hữu một sự di truyền từ những người tạo ra chúng ta. Tuy vậy, sự thừa kế di truyền này tạo ra chúng ta [là con người – ND] không hoàn thiện, mà chỉ thông qua việc tiếp thu kiến thức rút tỉa từ các nguồn văn hóa cụ thể nào đó riêng dành cho chúng ta, thì chúng ta mới trở thành những nhân tố thực tế trong thế giới mà chúng ta sống. Bằng cách tiếp thu kiến thức như vậy, chúng ta cũng sẽ chia sẻ những thế giới tâm tưởng với những người sống trước khi chúng ta ra đời, là người có trách nhiệm chuyển giao lại các kiến thức mà chúng ta thừa hưởng, và với những ai sẽ sống sau khi chúng ta qua đời, là người sẽ thừa hưởng tri thức mà chúng ta được truyền lại hoặc do chúng ta mới tạo ra. Như Steinzor (1978-1979:101) đã nói: “Chừng nào loài người còn nói và làm, thì họ còn ghi nhớ. Và cái được tưởng nhớ, một cách đau buồn hay vui sướng, trong huyền thoại và các câu chuyện kể, trong tất cả các thư tịch văn khố do con người tuyển biên, và trong các tạo tác của các tộc người, sẽ là bất tử.”

Cá nhân có thể có được cảm giác sâu sắc về sự bất tử là nhờ vào việc họ tiếp thu bản sắc văn hóa là thứ kết nối họ với những người đã qua đời và những người vẫn còn chưa được sinh ra. Tuy nhiên ý thức về sự tiếp nối của bản thân sau cái chết nảy sinh từ cái mà chúng ta có thể gọi là “công trình của văn hóa” – “work of culture.”[1] Công trình của văn hóa bao gồm một quá trình thông qua đó cá nhân được cung cấp một ý nghĩa chặt chẽ, rành mạch về các trạng thái mà họ trải qua như là đau khổ về mặt tình cảm, đớn đau thể xác, nhập nhằng về mặt xã hội, rối loạn về mặt đạo đức, hay là mơ hồ trong tâm trí. Quá trình này cũng kèm theo nó một sự chuyển biến của một tình trạng không mong đợi, hoặc nếu không cũng mở ra một cơ hội chuyển biến tương tự. Việc sản sinh ra công trình của văn hóa bắt đầu từ một ngôn ngữ có từ thời xa xưa, với lời giải thích về tình trạng không mong đợi là thứ chung cho tất cả con người, không phải của riêng ai. Rồi sẽ có một động thái hướng đến một thế giới được vẽ ra (Ricoeur 1971:535,560; 1979:37) để trong đó trạng thái ấy sẽ được chuyển đổi. Sự chặt chẽ, mạch lạc của ý nghĩa do quá trình này tạo ra thì có tính thực tiễn chứ không phải là có tính hợp lí ở chỗ nó được người ta trải nghiệm và hiểu rõ ở mức độ bằng nhau. Tính thuyết phục của sự mạch lạc có tính thực tiễn này tùy thuộc vào thẩm quyền của những người tham gia vào trong việc xây dựng nên công trình [của văn hóa] ấy. Để cho công trình của văn hóa chứa đựng thẩm quyền, những người tạo ra nó phải được mọi người công nhận dựa vào công đức mà họ thể hiện trong suốt quá trình đó, qua chức vị mà họ nắm giữ, hoặc là quyền lực mà họ sử dụng để có quyền phát ngôn và hành động với thẩm quyền. Đồng thời, quá trình này, đặc biệt là khi các vị chủ chốt này đang trong một trạng huống khó khăn, sẽ giúp thiết lập nên một thẩm quyền mới của các vị.

Từ khi Hertz (1960) viết bài luận kinh điển về cái chết, tang lễ và nghi thức tưởng niệm[2] đã luôn được chú ý. Hai nghi lễ này tạo ra một quá trình mà qua đó tang quyến được đưa ra khỏi cú sốc do cái chết của người thân để đến với sự chấp nhận cái chết ấy. Thi hài làm cho cái chết trở thành một thực tế không thể lẫn tránh. Nhưng kí ức về một người, thường được khuấy động bởi nhiều dấu hiệu – trang phục và những tư trang của người quá cố, câu chuyện về người đã khuất khi họ còn tại thế, con cái của người đó, nơi người đó đã từng làm việc và giữ trọng trách – sẽ tạo ra một cảm giác mạnh mẽ rằng người vừa mất vẫn còn, trong một cách thức nào đó, vẫn hiện hữu trong thế giới của người sống. Hertz (1960:81) đã viết rằng: “Sự thật tàn khốc về cái chết sinh lý vẫn không đủ để tạo ra cái chết trong tâm tưởng của con người; hình ảnh của người vừa qua đời vẫn còn là một phần của thế giới này, và chỉ từ từ mờ đi mà thôi” (xem trong Hertz 1960:48 và so sánh với Fabian 1973:189; 196-7 và Reynolds và Waugh 1977). Trong nhiều xã hội, quá trình nghi lễ bắt đầu từ cái chết sẽ kéo theo không chỉ là tang lễ, qua đó thân xác được tiêu hủy, mà còn những nghi thức phụ, thường được tổ chức vài tháng hoặc thậm chí là vài năm sau khi chết, ở trong những lễ này người quá cố sẽ được tưởng niệm, và trong vài trường hợp, những gì còn lại của người chết được an táng.

Hầu hết những nhà nhân học theo chân Hertz, bao gồm cả Huntington và Metcalf (1979) và Bloch và Parry (1982), trong những tác phẩm gần đây, đã tập trung vào cách thức mà quá trình nghi lễ gắn với cái chết đã dẫn đến việc tái tạo ra trật tự xã hội [giờ đây-ND] không còn sự hiện diện của người quá vãng. Tôi khẳng định rằng quá trình này cũng còn đóng thêm vai trò là tạo cho người đã chết một sự tiếp nối sau sự sống. Cái chết tạo ra không chỉ vấn đề cho xã hội, mà còn cho tất cả mọi người khi nhìn vào cái chết của người khác và lờ mờ thấy số phận tận cùng của chính mình. Biết chắc rằng người quá cố mà họ biết ấy sẽ có được một hình thức bất tử nào đó sau cái chết cũng là để giúp anh ta được bảm đảm rằng anh cũng sẽ có được tình trạng như vậy khi chính anh ta qua đời. Như Eliade đã chiêm nghiệm được là “Cái chết có thể tưởng tượng ra được nếu nó không liên quan đến một hình thức tồn tại mới, không cần biết hình thức này có thể được hình dung ra sao” (Eliade 1977:20). Sự tưởng tượng như vậy diễn ra trong quá trình đưa con người rời khỏi sự đối đầu trực tiếp với cái chết sang một sự chấp nhận rằng người quá cố không còn sống trong thế giới này nhưng đã đạt được một trạng thái tồn tại mới nào đó.


Về bài viết: Xuất bản trong tạp chí Folk (Copenhagen), số 29, trang 181-206, năm 1987. Bài viết này có nguồn gốc từ công trình nghiên cứu dân tộc học mà tôi đã tiến hành tại vùng phía Bắc Thái Lan, với sự hỗ trợ tài chính từ Quỹ Khoa học Quốc gia và trường Đại học Washington, và được xây dựng dựa trên các nghiên cứu kinh văn nghi lễ được thực hiện với sự tài trợ của Ủy ban Liên kết ACLS/SSRC về Nghiên cứu Đông Nam Á và của Đại học Washington. Tôi đã được học hỏi rất nhiều từ những nhận xét sâu sắc đối với bản thảo ban đầu của bài viết này của Frank Reynolds, Louis Gabaude, F.K. Lehman, Donald K. Swearer, A.L. Becker, Lucien Hanks, Michelle Rosaldo, Arthur Kleinman, E. Valentine Daniel, và Lawrence Epstein. Tôi cũng xin họ lượng thứ vì đã không chấp nhận tất cả các phê bình của họ. Tôi đặc biệt biết ơn Sommai Premjit vì đã giúp đỡ tôi trong việc dịch và giải nghĩa các kinh văn nghi lễ mà tôi thảo luận trong bài. Trên hết, tôi muốn tri ơn Phra Khru Anusonsatsanakiat vì đã đưa tôi vào với thế giới Phật Giáo ở vùng Bắc Thái Lan. Bản sửa chữa của bài viết đã được gửi đến nhà xuất bản vào ngày 19.5.1987, không bao gồm các thay đổi do hiệu đính.

[1] Như tôi đã trình bày ở vài tác phẩm của tôi (Keyes 1985:159), tôi đã tiếp thu khái niệm “công trình của văn hóa” từ Ricoeur. Ông là người đã triển khai khái niệm này từ việc ông tham khảo tác phẩm của Freud (xem Ricoeur 1970, đặc biệt là trang 25) và phân tích nó rất giống với cách phân tích của Obeyesekere (1985:147-48).

[2] Ở đây tôi phân biệt rõ giữa “tang lễ” vốn được tổ chức để tiêu hủy thi hài theo một cách thức thích hợp về mặt lễ nghi và “nghi thức tưởng niệm” là nghi lễ mà người quá cố sẽ được tưởng nhớ, chứ không phải trong hiển hiện qua hình dáng của xương thịt còn lại.

 Tác giả: GS. Charles Keyes – University of Washington

Người dịch: TS. Trương Thị Thu HằngTags: bắc thái lancái chếtcharles keyesgiáo dụclễ nghinghi thứcNghiên cứunhân họcphật giáoquan niệm về cái chếtsự sinhsư tửthái lantruyen thongtừ tử đến sinhvăn hóavăn hóa phật giáo

Add Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *