1. Sự tiếp nối sau cái chết và công trình của văn hóa trong một xã hội Phật giáo (tiếp theo) 

Quá trình tạo ra sự tiếp nối cho người chết luôn bắt nguồn từ một nền văn hóa cụ thể. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ xem xét đến công trình của văn hóa đã tạo nên một quá trình như thế trong một nền văn hóa, là nền văn hóa ở vùng phía bắc Thái Lan, một văn hóa đã được định hình một cách cơ bản bởi Phật Giáo Theravada. Phân tích về quá trình nghi lễ của tôi ở người Thái Lan ở phía Bắc (còn được biết đến là người Yuan hay Konmuang[4]) một phần dựa vào các quan sát của tôi tại vùng cộng đồng người Thái ở phía bắc thuộc huyện Mae Sariang.[5]Đạo Phật ở Mae Sariang đã chịu ảnh hưởng ở một mức độ nào đó các cải cách tôn giáo của Thái Lan hiện đại khởi phát từ Bangkok, nhưng những thực hành nghi lễ liên quan đến cái chết mà tôi đã quan sát trong những năm cuối 1960 và đầu 1970 vẫn tiếp tục được xây dựng hầu hết dựa trên truyền thống của người Thái ở phía bắc.[6] Mặc dù truyền thống này có gốc rễ từ thời tiền Phật giáo, phổ biến ở nhiều tộc người nói tiếng Thái[7], nhưng nó đã có được một nét đặc trưng Phật giáo trao tặng bởi Tăng già, là hội của những nhà sư Phật giáo, là những người đảm trách trách nhiệm diễn giải và thực hiện chủ chốt điều mà người Thái ở vùng phía bắc gọi là “tôn giáo” của họ (tiếng Thái vùng phía Bắc [ viết tắt là NT] gọi là satsana, tiếng Pali [viết tắt là P] là sasana[8]). Từ khoảng thế kỉ 15 khi Phật giáo Theravada trở thành tôn giáo phổ thông ở vùng phía bắc Thái Lan[9], Tăng già đã được người Thái vùng phía bắc thừa nhận là có thẩm quyền tối cao trong các vấn đề liên quan đến Pháp (dhamma), chân lý mà Đức Phật đã đề ra.

Những nhà sư Phật giáo vừa chỉ đạo quá trình nghi lễ khi có người qua đời và vừa đưa ra các diễn giải chặt chẽ về việc quá trình này sẽ thu được gì thông qua các buổi “tụng kinh”(NT thet; P desana) vào các thời điểm khác nhau trong suốt quá trình lễ. Tại Mae Sariang, hầu hết các nhà sư vẫn còn đọc tại các buổi tụng những bản kinh văn nghi lễ truyền thống thuộc về một loại hình gọi là Anisong (P anisamsa). Những bản kinh văn này kể về “các phần thưởng tinh thần” (Anisong) hay là “phúc đức” đạt được bởi những người tham gia vào các nghi lễ đi kèm theo. Các kinh văn này được viết bằng tiếng Thái cổ phổ biến trong truyền thống văn hóa của người Thái ở vùng phía bắc và người Lào, và vay mượn nhiều từ ngữ tiếng Pali, có hình thức của kinh (sutta), nghĩa là thuyết pháp của Phật. Tại Mae Sariang, hầu hết các kinh văn Anisong phổ thông được dùng trong một tang lễ được gọi tên chung là Anisong Sia Sop, “Phúc đức của việc tiêu hủy thi hài.” Đối với các nghi lễ tưởng niệm chủ đạo thì kinh văn chính là Anisong Salakkaphat, “Phúc đức của (việc cúng dường) thức ăn theo rút thăm.” Ngoài ra, một kinh văn thứ 3 là Anisong Buat, “Phúc đức của việc xuất gia đi tu”[10] cũng liên quan mật thiết đến việc hiểu biết về cái chết, chẳng hạn như nó miêu tả một phần nào cách thức “phúc đức” (NT bun; P punna) mà một người tích lũy được khi người đó xuất gia đi tu làm Tăng sẽ có thể được chuyển sang cho cha mẹ người đó để đảm bảo rằng họ sẽ được tái sinh tốt hơn.

Các bản kinh văn Anisong tạo nên chỉ một phần nhỏ bé văn chương Phật giáo phổ biến trong truyền thống của Thái và người Lào ở phía bắc, một khối văn tịch chỉ gần đây mới bắt đầu được nghiên cứu có hệ thống.[11] Mặc dù cho đến nay chúng ta vẫn chưa có thể kết luận được gì nhiều về sự phát triển của loại hình này, nhưng có thể nói rằng nó đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc đầu tư vào trong các nghi lễ của người Thái ở phía bắc với những ý nghĩa rút ra từ truyền thống chuẩn mực của Phật giáo Theravada. Tầm quan trọng về mặt giáo lý của những bản kinh văn Anisong này gắn liền với sự diễn giải của các thuyết giáo của Phật trong Visuddhimagga, “Thanh Tịnh Đạo Luận” (Path of Purification). Đây là một kinh văn do Buddhaghosa Bhikkhu (1976) soạn ra ở Sri Lanka vào thế kỉ 5, đã từ lâu được xem là hệ thống thần học của Phật Giáo Theravada.[12]

Sự lưu truyền của việc tiến hành nghi thức cùng với tư duy Phật giáo khởi nguồn từ Anisong và những kinh văn khác được nhấn mạnh trong một bản miêu tả các tập quán của người Thái ở phía bắc gắn liền với cái chết mà Phra Khru Anusonsatsanakiat (Anusaraņaśāsanākiarti; từ đây trở đi tôi sẽ gọi là Phra Khru Anuson), 1 sư trụ trì ở huyện Mae Sariang đã viết cho tôi. Bản miêu tả này, vốn đã được tôi xuất bản trước đây trong một bản dịch có chú giải, với lời giới thiệu (Anusaraņaśāsanākiarti và Keyes 1980), truy tìm công trình của văn hóa liên quan đến cái chết ở vùng phía bắc Thái Lan và qua đó đưa ra một bối cảnh để định vị sự diễn giải về cái chết mà các kinh văn Anisong cung cấp cho chúng ta.

Trong cộng đồng người Thái ở phía bắc thì cái chết được cho là trước hết gây ra sự chuyển đổi của một người sống thành ra một thi hài gắn với một hồn phách ô uế. Thông qua việc “tiêu hủy tử thi” thì hồn phách này được chuyển đổi thành ra một tinh anh hồn phách (surviving essence), được giải thích từ ý tưởng của đạo Phật về “thức” (consciousness). Cái tinh anh hồn pháchnày có khả năng hấp thu “phúc đức” do thân bằng quyến thuộc của người chết tạo ra cho người quá cố. Sau một khoảng thời gian không xác định nào đó thì cái tinh anh hồn phách còn lại đó sẽ được chuyển biến tiếp nữa thông qua tái sinh thành ra một tồn tại mới. Trạng thái của tồn tại mới này sẽ được quyết định bởi phúc đức hay là thất đức mà con người kiếp trước đó đã tích lũy trong suốt kiếp đó và bởi phúc đức được chuyển đến cho cái tinh anh hồn phách kia bởi những người khác. Quá trình tái sinh không được miêu tả trong các kinh văn Anisong gắn liền với tang lễ và lễ tưởng niệm, nhưng lại được miêu tả trong các kinh văn nghi lễ khác. Tôi sẽ dùng một bản miêu tả như vậy, được thể hiện trong một kinh văn truyền miệng là “gọi tinh anh (vital essence) của một người chờ xuống tóc” tôi đã ghi âm được trong lúc lễ này đang được tiến hành.[13]

Niềm tin vào sự tái sinh đã phá bỏ xu hướng cho rằng những người tổ tiên quá cố luôn quan tâm đến thế giới của người sống tại 1 số vùng ở phía bắc. Các kinh văn Anisong gắn liền với cái chết đã chỉ ra một sự chuyển kiếp sau cùng của vòng sinh tử, nhưng Niết Bàn lại không được ban tặng như là sự giải thoát cho tất cả những người đã qua đời. Dù sao thì quá trình nghi lễ của người Thái ở phía bắc trên thực tế vẫn cung cấp một sự chặt chẽ, mạch lạc về ý nghĩa của cái chết bằng các từ ngữ Phật giáo rõ ràng.


[4] Ở vùng phía bắc Thái Lan, người nói tiếng Thái đa số ở vùng này hiện nay đã từ lâu tự gọi họ là konmuang, “tộc người của bản mường” nhằm ám chỉ đến những vùng bán tự trị trước đây ở Chiang Mai, Lamphun, Lampan, Nan và Phrae. Từ Yuan thì chủ yếu được dùng để chỉ ngôn ngữ viết truyền thống, một loại ngôn ngữ phổ biến ở cả người Thái vùng phía bắc và người Khun ở Kengtung thuộc về bang Shan của Miến Điện.

[5] Tôi đã tiến hành nghiên cứu điền dã ở Mae Sariang, một thị trấn nhỏ nằm gần biên giới với Miến Điện, trong năm 1967 và 1968, và sau cuộc nghiên cứu này là các cuộc nghiên cứu thêm trong suốt thời gian tôi làm giảng viên Fulbright ở trường Đại học Chiangmai năm 1973-4. Mặc dù tôi chủ yếu chú ý đến truyền thống của người Thái ở vùng phía bắc nổi trội tại vùng Mae Sariang, cũng nên lưu ý rằng huyện Mae Sariang bao gồm một sự đa dạng các truyền thống văn hóa. Bên cạnh cộng đồng bộ lạc người Karen và Lua (Lawa) chủ yếu tập trung ở các khu vực cao của huyện, còn có nhiều cộng đồng người Shan và Miến Điện theo Phật giáo và Hồi giáo (Muslim) “Ấn Độ”. Trong số 11 tự-viện Phật giáo ở thị trấn Mae Sariang vào năm 1967-8, thì có 7 cái theo thực hành của người Thái ở phía Bắc, trong khi 4 cái kia thì theo phong tục của người Shan-Miến Điện. Sự phức hợp về tộc người ở thị trấn và huyện lỵ Mae Sariang đã đóng vai trò làm cho người Thái ở phía Bắc tự ý thức nhiều về truyền thống của họ hơn so với các vùng khác ở Thái Lan.

[6] Khi tôi quay lại Mae Sariang trong một thời gian ngắn năm 1980, tôi nhận thấy rằng một lò thiêu cố định theo phong cách Thái đã được xây dựng. Tôi cũng quan sát rất nhiều tang lễ và lễ tưởng niệm ở Chiang Mai, một thành phố trung tâm ở phía bắc Thái Lan. Trong khi một số theo thực hành của người Thái hiện đại, thì nhiều tang lễ vẫn được định hình bởi truyền thống của người Thái ở phía bắc.

[7] Theo quy ước chung, tôi dùng thuật ngữ “Tai” chỉ bất kì tộc người nói tiếng Thái nào và từ “Thai” để tộc người nói tiếng Thái hiện đang sinh sống trong đất nước Thái Lan.

[8] Khi chuyển ngữ các từ tiếng Thái vùng phía bắc (viết tắt là NT), tôi dùng trường âm nhưng không có dấu nhấn và tôi cũng làm như vậy đối với từ tiếng Thái phổ thông tương đương. Chúng ta sẽ gặp chuyện phải lựa chọn việc chú dẫn phiên bản chính tả hay là phiên bản nói của các từ khi chuyển ngữ tiếng Thái ở vùng phía bắc và tiếng Thái phổ thông, cũng tương tự như khi chuyển ngữ các ngôn ngữ Đông Nam Á khác được viết từ văn tự bắt nguồn từ Ấn Độ. Cả hai ngôn ngữ [tiếng Thái phía bắc và phổ thông – ND] đều vay mượn nhiều từ ngữ từ tiếng Pali và Sanskrit và nhờ vậy đã bảo tồn được cách đánh vần nguyên bản mặc dù là chúng được phát âm hoàn toàn khác nhau. Ở đây tôi chuyển ngữ dựa theo ngôn ngữ nói, và cho kèm theo từ tương đương trong tiếng Pali (viết tắt là P) khi nào thích hợp. Đối với các từ tiếng Thái ở phía bắc và phổ thông, tôi dùng dấu ô, và u cho các âm tiết /] / và /v/.

Chú thích thêm của người dịch: trong bài dịch người dịch sẽ không bỏ thêm các dấu biểu thị trường âm –dấu ngang trên đầu của âm – vì không có bộ gõ. Xin người đọc tham khảo thêm bản tiếng Anh nếu cần.

[9] Theo truyền thuyết ở Haripunjaya (ngày nay là Lamphun), Phật giáo Theravada lần đầu du nhập vào vùng phía bắc Thái Lan vào thế kỉ thứ 7. Tuy nhiên các cứ liệu lịch sử thì cho thấy rằng mãi cho đến thế kỉ 17 thì đạo Phật mới trở thành tôn giáo “chính thức” của những người cầm quyền người Mon-Lawa ở Haripunjaya. Các ông hoàng người Thái ở phía bắc – những người đã thế chỗ người Mon-Lawa và thiết lập các tiểu vương của họ ở vùng phía bắc Thái Lan và thế kỉ 13 và 14 – cũng đã thu nhận Phật giáo Theravada làm quốc giáo. Trong khi dân chúng của vùng này có lẽ đã chịu ảnh hưởng ở một mức độ nhất định tôn giáo của triều đình, nhưng chỉ khi có sự xuất hiện của các nhà sư thuộc hội Sinhala (nghĩa là những vị sư xuất thân từ một nhóm nhỏ các nhà sư Đông Nam Á đã được tái xuất gia đi tu tại Sri Lanka) vào thế kỉ 15 thì các cộng đồng tự viện mới được thành lập với số lượng đáng kể tại các ngôi làng cũng như trong các trung tâm triều đình. Sự hiện diện của Tăng già là cần thiết cho việc biến Phật giáo Theravada thành một tôn giáo của quần chúng. Lịch sử của Phật giáo Theravada gắn liền với nhiều biên niên sử ở vùng phía bắc Thái Lan, quan trọng nhất là bộ biên niên Camdevivamsa (đã được Coedes dịch phần nào vào năm 1925), bộ Jinakālamālīpakaraņam (cũng đã được Coedes dịch phần nào năm 1925 và được dịch toàn bộ bởi Ratanapañña vào năm 1968), và bộ Mūlasāsanā, mặc dù một dị bản ở vùng phía bắc Thái Lan của bộ biên niên này vẫn chưa được dịch, bộ Biên niên Pādāēng ở vùng Kengtung, được Sao Saimong Mangrai dịch vào năm 1981, chứa đựng “một sự giản lược không hoàn thiện”. Đọc thêm Griswold (1975), Swearer (1976), và Swearer và Sommai (1978) để có được một sự phân tích về lịch sử đạo Phật tại vùng phía bắc Thái Lan.

[10] Tôi đã sử dụng trong nghiên cứu của tôi các bản đã biên tập lại của các kinh văn này được xuất bản tại Chiang Mai (Anisong Buat, không có năm xuất bản; Anisong Sia Sop 1974; Anisong Salakkaphat, không có năm xuất bản). Dù cho các bản truyền thống của những kinh văn này viết trên lá buông được viết bằng văn tự của người Yuan (người Thái ở phía bắc) vẫn còn hiện hữu và đôi khi được dùng ở Mae Sariang, thì sự thật là các sư và sãi biết tiếng Thái nhiều hơn biết tiếng Yuan đã dẫn đến việc trong các năm 1967-1968 tôi chú dẫn theo các kinh văn in hơn là bản thảo viết trên lá. Các chú dẫn trong bài viết này là theo phiên bản in. Tôi rất tri ân Ngài Suriya Smutkupt và đặc biệt là Giáo sư Sommai Premjit vì đã dịch giúp tôi các kinh văn này. Bản dịch đầy đủ có chú giải của các kinh văn này sẽ được xuất bản riêng. Một trong các kinh văn này là Anisong Buat đã được tôi chú ý phân tích trong một bài viết khác (Keyes 1983).

[11] Nghiên cứu của Louis Finot (1917) – Khảo cứu văn học Lào (“Recherches sur la littérture laotienne”) – cho đến ngày nay vẫn là nghiên cứu có hệ thống duy nhất về truyền thống văn chương của người Lào và người Yuan. Bắt đầu từ những năm đầu 1970, có nhiều học giả, và đáng chú ý nhất là Sommai Premjit của trường Đại học Chiang Mai, đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống các kinh văn được tìm thấy tại các tự-viện ở phía bắc Thái Lan, và công trình này bắt đầu cho phép một sự đánh giá về sự phong phú của văn chương truyền thống của người Yuan và người Lào. Finot đã miêu tả về các kinh văn thuộc về nhóm Anisong là những bài kinh văn được dùng bởi các nhà sư để giải thích cho “tín đồ và người thực hành [nghi lễ] các lợi ích của việc làm các hành động hiếu hạnh” (Finot 1917:72). Trong một nghiên cứu gần đây về một số kinh văn của người Lào và người Yuan, liên quan đến các nghi lễ Năm mới truyền thống (songkran), Gabaude đã nói rằng các kinh văn Anisong truyền thống có thể được coi như là “hỏi đáp truyền đạo” (missionary catechisms) đã được dùng để trình bày các giáo thuyết Phật giáo theo các cách thức dễ hiểu đối với quần chúng (Gabaude 1979:186).

[12] Richard Gombrich (1971:43) đã nói về Vissudhimagga rằng “nó ảnh hưởng đến chuẩn mực thanh tẩy của chính thống giáo lý cho tất cả giáo đồ Phật giáo Theravada, dù họ có được giáo dục đủ để nhận thức được vấn đề hay không”. Còn Finot (1917:71) thì xem Visuddhimagga, với các hình thức đầy đủ và được giản lược có trong truyền thống văn chương của Lào, là tóm tắt quan trọng nhất của giáo lý Phật giáo. Reynolds và Reynolds (1982:36), trong phần giới thiệu kinh văn vũ trụ luận quan trọng là Trai Phum, được 1 ông hoàng người Siam [Thái Lan xưa] viết vào thế kỉ 14, thì nhận thấy sự diễn giải của giáo lý Phật giáo trong Vissuddhimagga dường như đã định hình nên cách thức các tư tưởng giáo lý được tái sử dụng trong một kinh văn có tác động to lớn đến việc thiết lập nên Đạo Phật Theravada trong các cộng đồng người nói tiếng Thái sống ở khu vực trở thành Thái Lan ngày nay. Các tác động tương tự có lẽ cũng hiện hữu trong các vị sư sống ở vùng phía bắc Thái Lan trong thế kỉ 15 và 16. Họ đã viết nhiều tác phẩm bằng tiếng địa phương (chắc hẳn bao gồm cả các kinh văn Anisong) để làm cho Phật Pháp đến được với công chúng (xem Swearer và Sommai 1978).

[13] Tôi đã ghi âm lại “gọi tinh anh của một người chờ xuống tóc” (hong khuan luk kaeo) tại một buổi lễ tiến hành bởi một thầy lễ thế tục (NT Acan; P Acaraya) ngày 15.7.1968. Mặc dù nghi lễ này có vài đặc điểm riêng, nhưng hình thức của kinh văn truyền miệng thì hoàn toàn tương tự như kinh văn viết về nghi lễ này mà Phra Khru Anuson đã cung cấp cho tôi. Tôi tri ân Sommai Premjit vì đã giúp tôi dịch và giải nghĩa nghi lễ này.

 Tác giả: GS. Charles Keyes – University of Washington

Người dịch: TS. Trương Thị Thu Hằng

Add Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *