NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ
VÀ VAI TRÒ KÉP TRONG CUỘC MƯU SINH

Phan Thị Kim Liên

Mở đầu

Phụ nữ Việt Nam, trong từng thời kỳ lịch sử, đã có những đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế và trong việc tạo thu nhập cho hộ gia đình, thông qua thương mại, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp. Thế nhưng, những công lao đó chưa được xã hội ghi nhận xứng đáng, vị thế của người phụ nữ vẫn chưa được đặt để ở vị trí tương hợp, khi mà tất cả các mối quan hệ trong cộng đồng, trong gia đình đều lấy nam giới là trung tâm. Vị thế nam giới được đề cao là hệ quả của chủ nghĩa phụ quyền, đại diện là hệ tư tưởng Nho giáo vốn tồn tại và bén rễ sâu sắc trong tâm thức của người Việt bao đời nay. Theo đó, người phụ nữ phải luôn cố gắng tuân thủ, ứng xử hợp với “tam tòng”, “tứ đức” nhằm tránh sự lên án, chỉ trích của xã hội. Nhưng cuộc cách mạng công nghiệp đã dần giúp người phụ nữ nâng cao được vị thế của mình trong gia đình và xã hội. Thật vậy, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam từ sauĐổi Mới (1986) cùng với chính sách công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu, đã làm thay đổi diện mạo của đời sống kinh tế – xã hội. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng diễn ra rõ ràng ở sự chuyển đổi cơ cấu từ nền kinh tế dựa vào nông nghiệp sang nền kinh tế chú trọng hơn vào công nghiệp và theo định hướng xuất khẩu. Theo dự báo của Liên Hiệp Quốc, đến năm 2040, dân số đô thị tại Việt Nam sẽ vượt cao hơn dân số nông thôn (Liên Hiệp Quốc, 2008). Đô thị hóa được đánh giá dựa vào năm đặc điểm: chuyển đổi về kinh tế, chuyển đổi phúc lợi, chuyển đổi dân số, chuyển đổi hành chính, chuyển đổi không gian (Ngân hàng Thế giới, 2011). Và quá trình đô thị hóa đã kéo theo hiện tượng di dân diễn ra mạnh mẽ. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, số người di cư từ nông thôn ra thành thị năm 2007 là 320.081 người đã tăng lên thành 390.614 người vào năm 2013. Và trong dòng người di cư ấy, có đến 220.575 người là nữ giới trong khi nam giới là 170.039 người (2013) (Tổng cục Thống kê, 2013). Cũng vậy, số liệu thống kê từ cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 thể hiện rằng có hơn 50% người di cư là nữ giới. Lý giải cho hiện trạng “nữ hóa di cư” có hai nguyên nhân chínhđược đưa ra, đó là: Sự giảm cầu lao động trong các hoạt động nông nghiệp tại nông thôn và sự gia tăng các cơ hội việc làm cho nữ giới tại các đô thị, cụ thể hơn là ở các khu công nghiệp (Đặng, 2003; Kabeer và Trần, 2006, dẫn lại theo Hoàng Bá Thịnh, 2012). Bên cạnh đó, theo một báo cáo của Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất (5/2007), đội ngũ lao động trong các khu công nghiệp – khu chế xuất có 90% là nữ giới. Bởi vì công việc dây chuyền lắp rắp giản đơn, không đòi hỏi học vấn cao cũng như tay nghề, chỉ cần cần mẫn, chịu khó và chấp nhận lương thấp mà đặc điểm này thường thấy ở nữ giới (Mohammed L.A, 1998, dẫn lại theo Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm, 2011). Điều này cũng trùng khớp trong nghiên cứu của Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm (2011) về sự tập trung chủ yếu của lao động nữ trong các công việc dây chuyền, như: may mặc, giày da, điện tử, thực phẩm… Thật vậy, xu hướng nữ hóa trong lực lượng công nhân nhập cư đang ngày càng trở nên phổ biến, bởi cơ hội việc làm dành cho nữ giới rất dồi dào ở các khu công nghiệp tại những đô thị lớn (Actionaid, 2014). Nhận định này cho thấy, sự tích cực tham gia vào lao động sản xuất, đóng góp đáng kể cho kinh tế của hộ sẽ góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình.

Đọc thêm: SocialLife Journal No.3

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

I accept the Privacy Policy