Trong những năm qua, những thực hành về chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) với nỗ lực thay đổi tập quán, quan niệm về an sinh xã hội đối với người lao động dường như không đạt được như kỳ vọng. Đặc biệt, từ sau đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư (5/2021-10/2021) hiện tượng công nhân, người lao động rút tiền BHXH một lần diễn ra hàng loạt không những khiến cho mô hình phúc lợi công lâm vào tình cảnh khủng hoảng mà còn khiến cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngưng trệ.

Nguồn: Internet

Các cơ quan quản lý nhà nước không ngừng thảo luận, tìm kiếm giải pháp nhưng dường như chưa có lời giải hữu hiệu nào cho vấn đề này. Có lẽ, để giải bài toán nan đề này, chúng ta cần hiểu được căn nguyên của vấn đề để từ đó có lời giải cho bài toán khó về BHXH của người lao động hiện nay.

Thiết chế gia đình một dạng thức BHXH dân gian?

Trước tiên, việc tham gia BHXH là bài toán lợi ích theo nguyên tắc “đóng – hưởng”, một kế hoạch đảm bảo an sinh khi đến tuổi hưu trí. Đây cũng là các khía cạnh nhận thức của người lao đông về lợi ích của việc tham gia BHXH trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, phần đông người lao động hiện nay tham gia BHXH là những người di cư từ nông thôn ra thành thị ít nhiều ảnh hưởng bởi tập quán của mô hình sinh kế  hộ gia đình nông nghiệp vốn xem việc đầu tư cho con cái học hành là chiến lược đầu tư dài hạn nhằm đảm bảo an sinh khi về già. Quả thật mô hình an sinh hộ gia đình nông dân bao đời nay giữ vai trò khá quan trọng trong đời sống người dân khi được củng cố bởi những giá trị văn hóa Nho giáo thông qua các thực hành giá trị hiếu nghĩa với ông, bà, cha mẹ. Những giá trị này không chỉ thấm đẫm trong các nền văn hóa Á Đông mà còn được biết đến trong nền văn minh Hy Lap. Hạn từ GIA ĐÌNH như chúng ta hiểu ngày nay lại có chung nguồn gốc với hạn từ Oikonomia. Gốc từ Oikos đơn giản chỉ ngôi nhà hay tất cả những gì được chứa đựng trong không gian sống ấy, để nó được vận hành theo đúng mục đích. Theo đó, hạn từ economy/kinh tế trong ngôn ngữ hiện đại ít nhiều hàm chứa đặc đính của mô hình quản trị kinh tế gia đình. Đó cũng nguồn gốc của các mô hình trách nhiệm xã hội được định danh là mô hình gia trưởng, khi những giới chủ doanh nghiệp cách đây ở những thế kỷ trước xác lập nguyên tắc của nền đạo đức kinh doanh gắn liền với trách nhiệm người bảo trợ. Thế cho nên trong tiếng Latinh hạn từ familia, vốn có gốc từ “famulus” tức kẻ ăn, người ở trong nhà, tức ngôi nhà có người cai quản nhưng đồng thời mang hàm nghĩa “sự chăm sóc cho nhau”.

PGS TS Nguyến Đức Lộc – Nguồn: Internet

Tuy nhiên, bước vào thế kỷ 20, khi mô hình các đại nhà máy, công xưởng công nghiệp qui mô lớn ra đời, đặc biệt quá trình lưu động dòng vốn được vận hành xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.  Các mô hình quản trị kinh tế nhà nước hiện đại ra đời với chính sách phúc lợi có đi có lại khi người lao động, đóng góp, tích lũy để đến khi gặp rủi ro, hay khi về già thì hệ thống bảo hiểm sẽ chi trả cho những người đã tham gia đóng BHXH theo nguyên tắc đóng hưởng hay còn gọi là mô hình tân gia trưởng. Cho đến hiện nay, các thực hành trách nhiệm xã hội, hay mô hình phúc lợi xã hội cũng đã thay đổi, các nguyên tắc lý tính dần thay thế cho các mô hình truyền thống vốn theo nguyên tắc “chăm sóc lẫn nhau”. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngày nay cũng chỉ thực hành trách nhiệm của mình theo nghĩa “trách nhiệm hữu hạn” tại các quốc gia sở tại mà họ tới đầu tư, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển luôn dành rất nhiều ưu đãi cho các nhà đầu từ ngoại quốc. Trong hơn 30 năm qua, khi Việt Nam trải thảm đỏ đón các doanh nghiệp ngoại quốc tới đầu tư thì cũng mặc nhiên, trách nhiệm phúc lợi thuộc về quốc gia sở tại. Chính vì lẽ đó, chúng ta có thể nhận thấy có một khoảng cách về nhận thức về quyền và trách nhiệm của các bên liên quan trong việc đảm bảo trách nhiệm xã hội và lưới an sinh cho người lao động trong thực tiễn phát triển ở Việt Nam. Điều này, đã ít nhiều là rào cản cho việc chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang mô hình nhà nước phúc lợi xã hội, trong đó BHXH như là công cụ đảm bảo an sinh xã hội.

Khi người lao động phản ứng lại Luật BHXH

Tại TP.HCM, năm 2015, hàng chục ngàn người lao động Công ty Pouyuen (Khu công nghiệp Tân Tạo, phường Tân Tạo, quận Bình Tân) đình công nhằm bày tỏ những lo lắng về quyền lợi tham gia BHXH trong bối cảnh các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện Luật BHXH, trong đó, điều 60 của Luật này, không cho phép người lao động được rút một lần số tiền BXHH đã đóng.

Sự kiện năm 2015 tại công ty Pouyuen đánh dấu một cuộc thương thảo tập thể giữa người lao động, với các bên liên quan như: doanh nghiệp, công đoàn và các cơ quan phụ trách vấn đề BHXH. Sau đó, Quốc hội đã ra Nghị quyết, vẫn cho phép người lao động, khi có yêu cầu thì được nhận BHXH một lần.

Trong 5 năm từ thời điểm Luật BHXH hiệu lực (1/1/2016), hơn 3,7 triệu người chọn rút BHXH một lần thay vì chờ lương hưu. Thống kê của Bộ Lao động, thương binh và Xã hội, giai đoạn 2016-2020, “cứ hai người tham gia hệ thống BHXH thì một người rời đi. Xu hướng này tiếp tục gia tăng”.

Bởi từ lâu, các kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Đời sống xã hội (SocialLife) cho thấy không ít người lao động di cư xem khoản tiền đóng bảo hiểm như một khoản tiền tiết kiệm làm vài năm rồi rút ra làm ăn hoặc giải quyết những việc quan trọng của gia đình. Nhiều người lao động xem việc đóng bảo hiểm như một dạng thức chơi hụi, đi làm đóng một thời gian rồi rút ra, rồi lại tham gia đóng BHXH lại từ đầu như thể chẳng quan tâm gì đến lương hưu sau này. Thế cho nên, khi các cơ quan chức năng thảo luận với nhau tìm giải pháp giữ chân người lao động ở lại với hệ thống BHXH thì người lao động lại hoang mang và lại tiếp tục xin nghỉ việc để kịp rút BHXH vì sợ rằng mình sẽ mất đi khoản tiết kiệm từ nguồn này. Rõ ràng điều này cho thấy, cách hiểu của các bên liên quan quá khác nhau và dường như mọi nỗ lực của các cơ quan chức năng đều không hiệu quả. Có lẽ những người làm chính sách cần phải hiểu thật kỹ tập quán của người lao động để có những chính sách truyền thông nâng cao nhận thức về an sinh cho người lao động khi đến tuổi hưu hay khi gặp rủi ro mất sức lao động. Bên cạnh, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào thực tế cách thức vận hành của cơ quan BHXH hiện nay chưa thực sự tạo ra niềm tin cho người lao động.

Ở khía cạnh nào đó, người tham gia BHXH có thể xem như là cổ đông của nguồn quỹ bảo hiểm xã hội và họ cần biết nguồn ngân sách tăng giảm hàng năm. Bởi chỉ khi người lao động tin rằng nguồn tiền họ đóng vào nguồn quỹ được vận hành, quản lý một cách minh bạch, có những thực hành tốt trong việc bảo trợ an sinh cho người lao động thì lúc đó mới có thể giữ chân họ ở lại với hệ thống phúc lợi công. Lúc đó, trong nhận thức của người lao động, cơ quan quản lý quỹ BHXH trở thành trụ cột tin cậy khi họ gặp khó khăn hay khi hết tuổi lao động.

Không chỉ sửa đổi luật mà còn cần phải thay đổi cách thức vận hành

Trong những ngày gần đây, những thảo luận trên nghị trường Quốc hội cho thấy dự thảo sửa đổi Luật BHXH đã đưa ra những quy định về cách tính lương hưu, thiết kế lại mức hưởng và tỉ lệ hưởng để bảo đảm quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, đối với người lao động hệ thống BHXH hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu cũng như mong đợi của người lao động nên việc sửa đổi Luật BHXH lần này cũng cần phải có lộ trình sửa đổi chính sách một cách thận trọng, kỹ lưỡng để làm sao khi Luật ra đời nó có độ phủ rộng khắp cho mọi đối tượng thụ hưởng, tránh trường hợp là Luật ra đời có thể giải quyết vấn đề cấp bách cho một nhóm đối tượng nhưng lại để lại những thiệt thòi về quyền lợi cho các nhóm khác.

Hiện nay, chúng ta có thể thấy một khoảng cách khá lớn giữa tuổi nghề và tuổi nghỉ hưu của người lao động, đặc biệt với những lĩnh vực công nghiệp, thâm dụng lao động. Họ có tuổi nghề ngắn, nữ công nhân bước sang tuổi 40 thì cơ hội lao động bị thu hẹp hoặc phải chuyển nghề. Do đó, khi tuổi nghề đã hết nhưng tuổi về hưu thì chưa tới thì điều đó đưa đến thực tế là người lao động thà rằng rút bảo hiểm một lần rồi tính tiếp chứ không chờ đến khi nhận lương hưu. Điều này đã tạo ra những khó khăn cho các cơ quan chính sách và doanh nghiệp sử dụng nguồn lao động hiện nay. Đây thực sự là một bài toán khó khi nguyên tắc vận hành của quỹ BHXH phải tuân thủ nguyên tắc đóng – hưởng, tức đóng ít thì số tiền nhận được không đáng kể.

Trong khi đó, không ít người lao động có thể tính toán và so sánh việc trích lương đóng vào quỹ BHXH với đầu tư các mô hình tài chính khác. Họ thấy trước mắt rằng rút một lần rồi gửi ngân hàng, đầu tư bất động sản… có lợi hơn. Từ nhận thức này của người lao động, cơ quan quản lý quỹ BHXH cũng cần phải thay đổi cách quản trị tài chính để sinh lời. Lợi nhuận đó phải được báo cáo thường niên, công khai cho người lao động biết vì suy cho cùng họ cũng có thể xem là cổ đông của quỹ BHXH.

Theo báo cáo thẩm tra tình hình thực hiện chính sách BHXH do Ủy ban Xã hội của Quốc hội đưa ra hồi cuối tháng 10/2021, hết năm 2020, tổng số kết dư của Quỹ BHXH và Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp gần 953.000 tỷ đồng. Với số tiền kết dư lớn, nếu quỹ đầu tư hiệu quả, lợi nhuận đủ để bù đắp những rủi ro cho người lao động, đầu tư vào hệ thống an sinh, thiết kế mức hưởng thấp nhất tương ứng mức sống tối thiểu. Sau đó tỷ lệ hưởng tăng dần theo số năm đóng và khuyến khích đóng càng lâu số tiền nhận được càng nhiều thì chắc chắn bài toán BHXH sẽ có cơ may giải được trong bối cảnh lòng tin của người lao động vào hệ thống BHXH suy giảm. Bởi theo lẽ thường, với người lao động, lợi ích thật rõ ràng, thiết thực sẽ khiến họ an tâm ở lại với lưới an sinh. Khi đó mức đóng tối thiểu bao nhiêu năm sẽ không còn quan trọng nữa.

Sài Gòn, 24.7.2022

PGS TS Nguyễn Đức Lộc – Nguồn: Người đô thị

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.