Từ tử đến sinh: Nghi lễ và ý nghĩa Phật giáo ở vùng Bắc Thái Lan [Phần cuối]

6. Tiến trình hóa kiếp trong Phật giáo

Thế giới mà công trình văn hóa của người Thái ở phía bắc kiến tạo nên được xem xét trong bài viết này đã được định hình bởi sự phản ảnh lên ý nghĩa của cái chết trong tư duy Phật giáo Theravada chuẩn mực. Thông qua việc sản sinh và tái sản sinh ra các kinh văn và lễ nghi tôn giáo, các thành viên của Tăng già người Thái ở vùng này đã trình bày về Phật Pháp. Do vậy chúng ta có thể tìm thấy các trong kinh văn và ngôn từ nghi lễ tại địa phương, sự song song và ám chỉ các giáo lý này, chẳng hạn như trong các nguồn kinh văn hoặc trong thần học chuẩn mực của Buddhaghosa trong tác phẩm Vissuddhimagga của ông. Tuy nhiên như chúng ta đã thấy, thế giới của những kinh văn và nghi lễ này không phải được kiến tạo chỉ bởi các yếu tố Phật giáo. Cho dù là có sự pha trộn của Phật giáo trong vài kinh văn (xem Anusaraņaśāsanakiarti và Keyes 1980:20‑26; Ānisong Sīa Sop, dòng 26) với nhiều thực hành tiền Phật giáo ở tang lễ của người Thái ở vùng này, nhưng vẫn có sự ngắt quãng về mặt nhận thức luận trong thế giới mà người Thái tại đây hiểu về cái chết.[1] Trong thế giới ấy, ý nghĩa được tạo lập thông qua việc sử dụng các biểu tượng chất chứa nhiều ý tưởng phi-Phật giáo, các truyền thuyết vốn thường, nhưng không phải luôn luôn, có nguồn gốc từ trong Phật giáo và các giáo điều Phật giáo cơ bản.

Sự ngắt quãng trong thế giới ấy chỉ ra rằng cái làm cho nó liền mạch không phải là tính vững chắc hợp lý như chúng ta có thể tìm thấy trong thần học có hệ thống. Mà đúng ra thì sự liền mạch đó hiện ra từ sự chú tâm có trình tự đến mỗi một quan tâm có tính hiện sinh, khiêu gợi bởi sự ý thức về cái chết và sự tìm kiếm một sự tiếp nối sau cái chết. Quan tâm trước tiên nảy sinh vào thời điểm có người qua đời, khi mà tang quyến bị buộc phải đối diện với cái tử thi lặng câm của người chết. Đồng thời với lúc họ trở nên ý thức được về sự trống vắng sự sống trong cái tử thi, thì họ lại tìm thấy sự hiện hữu của người ấy rõ ràng ràng, được minh chứng bởi quá nhiều vật gợi nhớ trong thế giới mà ông/bà ấy đã từng sống. Chính sự tương phản này giữa cái hiện diện được cảm thấy của người quá cố và tầm quan trọng của cái tử thi kia đã tạo ra một sự chú dẫn tuyệt đối về một tư tưởng có trong rất nhiều truyền thống khác nhau, bao gồm cả vùng phía bắc Thái Lan, rằng cái chết vừa ô uế vừa nguy hiểm. Người Thái ở phía bắc, một lần nữa cũng giống như những tộc người khác, đã chỉ ra sự tồn tại của một thể tiêu cực (phi tai) rằng nó là hiện thân của tính chất ô uế của cái chết và là mối đe dọa về vận rủi có thể xảy ra với tang gia và những người thân cận với người quá cố. Hơn thế nữa, người Thái ở vùng này có rất nhiều các biến thể khác nhau của quan niệm cho rằng cho đến khi cái tử thi kia hoàn toàn được tiêu hủy, thì mối hiểm họa đến sự an lành của người sống do cái chết kia gây ra vẫn còn sờ sờ ra đó (xem thêm về vấn đề này trong Hertz 1960:37, 46, 51).

Việc cho rằng cái chết gây ra bất hạnh cho người sống không phải là một suy nghĩ đồng bóng; có những nổi khổ thật sự được cảm nhận bởi những người đau buồn khi mất đi người thân hay bạn bè. Người Thái ở phía bắc thì đưa ra ý nghĩa cho nỗi đau khổ này không chỉ trong việc bao hàm nó trong khái niệm về một cái ác (evil essence), mà còn trong một giáo lý Phật giáo trừu tượng hơn về dukkha, “khổ”. Chủ đề cái chết là khổ đau đã nhận được nhiều giải thích sâu sắc trong các kinh văn của người Thái ở phía bắc, và đặc biệt trong những kinh văn gắn với tang lễ. Mặc dù theo lý lẽ trong kinh văn, chủ đề này được đưa ra vượt trội hơn hẳn ý tưởng về một cái ác, thì trong nghi lễ lại ngược lại; cho nên cả hai đều có một vị trí trong thế giới mà người Thái ở vùng này tìm ra ý nghĩa của cái chết.

Vượt ngoài nổi đau mà những người đối diện với cái chết của họ hàng hay bạn bè cảm nhận được, trong toàn thể nhân loại, có một nhu cầu bức thiết cần được đảm bảo rằng người chết nhận được một kiểu tiếp nối nào đó sau cái chết. Trong tư duy của người Thái ở phía bắc, không phải là cái phần âm (negative essence) tạo thành một dạng hình mà người chết sẽ tồn tại sau khi qua đời. Thật sự là, khi tiêu hủy cái xác, nổi sợ về cái chết cũng tiêu tan, và cái hồn phách tinh anh kia sẽ chuyển từ một cái hồn đáng sợ thành ra một tồn tại ngưỡng (liminal essence) vốn sau hết cũng sẽ được tái sinh. Cái tồn tại ngưỡng này, chính là duang winnan, được hiểu trong cộng đồng người Thái ở vùng này với tham khảo cái ý tưởng Phật giáo về “thức” (vinnana). Cái thức này không phải là một hình thức bất tử; theo như tư duy Phật giáo quan niệm về nó, thì nó chỉ là một sợi dây nối kết giữa một tồn tại này với tồn tại kế tiếp mà thôi. Trong tư duy của người Thái ở phía bắc, sự chuyển biến giữa hai tồn tại không hoàn tất trong một thời khắc. Chính xác thì nó kéo dài, do vậy cho phép họ tiến hành, cũng như tất cả mọi người cũng sẽ làm, “việc để tang.” Steinzor đã viết “Việc để tang là sự chùng xuống tự nhiên của tâm trí hướng đến việc tìm ra ý nghĩa thích hợp trong một mối quan hệ đã bị gãy đổ nhằm lấy lại sự tiếp nối giữa người chết và người sống và người vẫn chưa sinh ra đời” (Steinzor 1078-1979:104). Thông qua việc để tang là một việc do công trình của văn hóa sản sinh ra, sự tiếp nối sau cái chết đối với người quá cố thật sự được tạo thành (ít nhất là cho người sống), và đồng thời, trật tự xã hội của người sống cũng được tái-tạo. Như Reynolds và Waugh đã viết: “Tang lễ không chỉ đưa người chết lên một bậc thích hợp trong thế giới bên trên mà còn biến người sống thành ra những người sáng lập nên trật tự mà mỗi người sẽ tìm thấy chỗ của mình. Những người tham gia nghi lễ thực thi một mức độ quan trọng về thế giới quan vượt khỏi vai trò của họ trong thế giới thông thường của vạn vật” (Reynolds và Waugh 1977:9).

Ở người Thái ở phía bắc, công trình văn hóa, cũng là việc để tang lên đến tột độ trong các hành vi tế lễ qua đó phúc đức được cho là được chuyển đến cho người quá cố. Chuyện chuyển giao phúc đức như vậy được hiểu là nhằm đảm bảo một tái sinh tốt cho người đã khuất. Trong các dịp tế lễ chuyển phúc, tên của người chết được làm cho phù hợp với sự thừa nhận của công chúng; thực sự thì một sự thừa nhận như vậy có lẽ chỉ xảy ra trong những dịp này, ngoại trừ những cá nhân đã đóng một vai trò cực kì quan trọng trong xã hội. Với niềm tin rằng hành động của người sống có thể tạo phúc để chuyển cho người chết, người Thái ở phía bắc đã tham gia vào trong việc mà chúng ta phải xem là một loại hình thờ cúng tổ tiên. Sự tôn thờ người quá vãng như vậy thì đối nghịch với quan niệm Phật giáo chuẩn mực rằng cái còn lại sau cái chết bao gồm không phải là sự tồn tại tiếp tục của cùng người đó, mà là một sự chuyển biến, thông qua thức uẩn nối- kết- tái- sinh, của một người với một người mới. Nói cho cùng thì người Thái ở vùng này chấp nhận chân lý của giáo lý Phật giáo này, nhưng chỉ sau khi đã mở rộng nó ra để cho phép họ trải qua giai đoạn để tang, bằng cách tiến hành những nghi thức giả định về sự tồn tại tiếp nối của phần bản thể của một người đã mất trong một giai đoạn khá dài. Đồng thời, những hành vi này cũng cho phép họ tái lập lại trật tự xã hội trong sự thức tỉnh từ những gãy đổ gây ra bởi cái chết.

Không giống như ở các dân tộc khác trong những xã hội khác, đối với người Thái ở phía bắc người chết không bao giờ thật sự trở thành tổ tiên. Điều này hiển hiện rõ ràng trong việc thiếu vắng sự quan tâm vào phả hệ trong người Thái ở vùng này, cũng như trong các Phật tử Đông Nam Á khác. Mặc dù không có một thời điểm chính xác nào trong tiến trình được cho là một hồn phách tinh anh của một người đã được tái sinh, nhưng ý tưởng về việc tái sinh sau cùng sẽ dẫn đến chuyện biến mất nhân dạng riêng của những người đã qua đời. Thậm chí là một vị thánh với phần thi thể còn lại được đặt trong một tháp cốt cũng không được thánh hóa, vì người ta hiểu rõ rằng phần còn lại kia không phải là của một người vẫn còn trên trần gian, mà thật ra là phần vật chất chứa đựng phúc đức vẫn còn tiếp tục có hiệu lực cho người sống mà thôi (xem Keyes 1982).

Cũng giống như toàn thể loài người, người Thái ở phía bắc dựa vào công trình của văn hóa để đưa họ thoát khỏi sự thật tàn khốc của cái chết. Tuy nhiên, công trình của văn hóa này không phải giống nhau trên toàn thế giới; cái thế giới mà tiến trình này mở ra ở phía bắc Thái Lan khác nhau cơ bản so với những thế giới mở ra trong các quá trình tương tự ở những nền văn hóa khác. Sau cùng thì quá trình này của người Thái ở phía bắc không kết thúc với một nhận định rằng người chết đã đạt được sự bất tử vĩnh hằng, mà thật ra là một cái kết với một sự hiểu biết rằng những ai đã qua đời, ngoại trừ họ là những người hành Đạo do Đức Phật thuyết giảng, đã được tái sinh làm người mới, nối kết với những tiền kiếp bởi một bản thể (essence) do nghiệp chướng trong quá khứ của người đó quy định nên.


 

[26] Tôi vay mượn ý tưởng “sự ngắt quãng về mặt nhận thức luận” (epistemological disjunctions) từ Becker (1979).

 Tác giả: GS. Charles Keyes – University of Washington

Người dịch: TS. Trương Thị Thu Hằng

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie