Trách nhiệm với Tự Nhiên? Hans Jonas và Đạo đức học Môi trường (Phần 3 và hết)

Vậy Jonas đã biện minh phiên bản về mệnh lệnh luân lý của ông, đặc biệt là phần quy định trách nhiệm luân lý đối với tự nhiên như thế nào? Sự biện minh này không dựa trên lý tính thuần túy theo nghĩa của Kant. Không có sự mâu thuẫn về mặt logic nào bao hàm trong ý chí về việc hy sinh sự tồn tại của những thế hệ tương lai và sự toàn vẹn của bầu sinh quyển với những thuận lợi của nhân loại hiện tại. Tuy nhiên, chúng ta không có quyền từ chối sự sống và sự thịnh vượng của những thế hệ tương lai, bởi vì bản thân chúng ta đã nhận được lợi ích từ thế hệ cha mẹ của chúng ta và chúng ta mang ơn họ vì sự tồn tại và sự sung túc của chính mình. Một giả định rằng: bởi vì chúng ta tham gia trong một đời sống phổ quát, thế nên chúng ta vừa là chủ thể vừa là khách thể của sự chăm sóc nhằm đảm bảo đời sống. Ngay khi chúng ta nhận ra những thế hệ kết nối hữu cơ trong sự thống nhất của một tiến trình đời sống phổ quát liên tục trên trái đất, cùng lúc đó, chúng ta cũng nhận ra sự chăm sóc dành cho kẻ khác và cho bản thân chúng ta được kết nối một cách sâu sắc như hai mặt của một đồng tiền. Do vậy, một sự tự bảo tồn vị kỷ và thiển cận mà cái giá phải trả là kẻ khác và toàn bộ bầu sinh quyển sẽ bao hàm những mâu thuẫn, bởi vì, sự bảo đảm cho tiến trình đời sống phổ quát là một điều kiện tiên quyết dành cho khả thể của sự tự bảo tồn cá nhân. Do đó, chủ thể lý tính hiểu đời sống cá nhân của anh ta trong bối cảnh toàn bộ đời sống sẽ không thể hành động từ nguyên tắc của thuyết vị kỷ, bởi vì điều này sẽ bao hàm sự mâu thuẫn về những nền tảng logic tương tự nhau. Nếu nguyên tắc của Jonas tương tự với phiên bản đầu tiên của mệnh lệnh nhất quyết của Kant, thì nó cũng được duy trì bởi phiên bản thứ hai của mệnh lệnh nhất quyết của Kant: nếu chúng ta mở rộng không gian của hành động luân lý từ bối cảnh hiện tại tới tương lai, quyền tự quyết hoặc nói như từ của Kant: quyền được tôn trọng như một “mục đích tự thân” thì chúng ta nên quy nó cho những thế hệ tương lai cũng như hiện tại của kẻ khác và có thể cũng là toàn bộ bầu sinh quyển.

Sự biện minh là điều còn sót lại ở đây đối với cuộc thảo luận về yêu sách của trách nhiệm luân lý đối với tự nhiên. Liệu có thể chuyển hóa mệnh lệnh nhất quyết của Kant từ mối quan hệ liên chủ thể đến mối quan hệ của nhân loại đối với bầu sinh quyển xét như một tổng thể với mục tiêu bảo tồn sự đa dạng tự thân của loài và tôn trọng bản thân sự tự quyết, tức bản thân sự cân bằng tự duy trì? Câu hỏi trên đã được khách thể hóa bằng những hành động luân lý mang tính liên chủ thể và chúng tiền giả định những mối quan hệ đối xứng giữa các bộ phận. Sự tôn trọng của tôi đối với sự tự trị của kẻ khác bao hàm sự tôn trọng của kẻ khác đối với sự tự trị của tôi. Quyền và nghĩa vụ của chủ thể lý tính là hai mặt của một đồng tiền. Hơn nữa, câu hỏi trên có thể được lập luận rằng những thế hệ tương lai của nhân loại vẫn chưa hiện hữu và bầu sinh quyển không thể được xem như là một con người. Do vậy, cả hai lập luận trên đều không xứng đáng có quyền được xem như là những đối tượng của trách nhiệm luân lý.

Chúng ta đã đề xuất câu trả lời của Jonas về những đối tượng này, và chúng được giải thích rõ ràng như sau: một nền đạo đức học tiền giả định sự bất đối xứng do sự bất bình đẳng của mối quan hệ liên quan đến tri thức và quyền lực. Do đó, những mối quan hệ luân lý là không đối xứng, chẳng hạn như hình mẫu nguyên bản của trách nhiệm là mối quan hệ của cha mẹ với con cái của họ. Nếu chúng ta quan niệm luân lý dựa trên khái niệm về đời sống chứ không phải dựa trên những nguyên tắc của lý trí thực hành thuần túy, chúng ta được phép phát biểu rằng mục tiêu của luân lý có gắng hướng đến sự phổ quát và trách nhiệm hướng đến sự đặc thù nâng cấp đời sống cá nhân và đời sống tổng thể, bởi vì, bản chất của đời sống hướng đến sự bảo tồn và sự tự hiện thực chính nó. Do vậy, “phải” có thể bắt nguồn từ “là”, bởi vì, cái nâng cấp đời sống trong hành vi luân lý chính là bản thân sự tranh đấu vốn có của đời sống. Do vậy, bổn phận luân lý được đặt trong tiến trình đời sống phổ quát mà tất cả chúng ta là một phần trong nó và một thái độ trách nhiệm, một nghĩa vụ chăm sóc, là nền tảng đối với những tồn tại như chúng ta, những người cần phải hiểu về bản thân mình như là sự tranh đấu cho sự tồn tại, sự sung túc và sự tự hiện thực.

Câu trả lời đối với câu hỏi sự bảo tồn đời sống của bầu sinh quyển bao gồm sự đa dạng tự thân của loài, có thể được xem như là một đối tượng của trách nhiệm luân lý nảy sinh từ luận cứ này. Như lời đề xuất ở trên, tự nhiên là một điều kiện không chỉ đối với sự tồn vong của nhân loại mà còn hoàn toàn tồn tại cho chính nó. Tự nhiên thiết lập nên nền tảng cho tự thân đời sống; nó cung cấp tiềm năng để thực hiện những nhu cầu của nhân loại. Sự chăm sóc đối với sự đa dạng của loài trong tự nhiên biểu lộ sự xác quyết căn bản của đời sống và của sự tự hiện thực liên đới trong những bộ phận của nó. Thông qua sự chăm sóc với đời sống tự nhiên, chúng ta cũng khẳng định đời sống con người, theo nghĩa cơ bản của sự bảo đảm sự thực hiện những nhu cầu của chúng ta và nghĩa mĩ học. Do vậy, ít nhất chúng ta cũng có trách nhiệm gián tiếp với tự nhiên.

Nhưng phải chăng chúng ta cũng có trách nhiệm trực tiếp với tự nhiên? Thoát khỏi sự biện minh đạo đức như tôi đã trình bày ở trên, sự biện minh này cũng có khả năng cung cấp một luận cứ siêu hình. Một chủ đề được lặp đi lặp lại ở Jonas liên quan đến câu hỏi về vị trí của con người trong tự nhiên. Con người là một loài giữa các loài khác, thế nhưng con người không chỉ có vậy. Sự hiện sinh của con người trên trái đất là sự chứng nhận con người tồn tại với tư cách vừa thuộc về vừa siêu việt khỏi tự nhiên. Bởi vì, trên thực tế con người là một loài đã phát triển quyền lực về tri thức và công nghệ tác động đến điều kiện của toàn bộ bầu sinh quyển cả ở phương diện tiêu cực lẫn tích cực. Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ trong lịch sử nhân loại đã cho thấy điều đó. Nhưng sự nhận thức của con người cũng kết nối với ý chí và hành vi của anh ta. Ngoài năng lực của sự lựa chọn có chủ đích, con người cũng tồn tại như là một chủ thể có thể được chỉ định trách nhiệm. Đặc điểm luân lý hiện sinh này của con người xuất phát từ những lập luận sau: đầu tiên, con người có tri thức (khoa học) và có đủ quyền lực về kỹ thuật để đảm bảo sự tự bảo tồn của anh ta và tác động đến bầu sinh quyển; thứ hai con người có thể biết được những hệ quả tích cực lẫn tiêu cực trong hành động của anh ta. Điều này có thể được khẳng định từ hai lập luận này mối quan hệ của con người với tự nhiên thực chất phải là luân lý, chẳng hạn như bầu sinh quyển – mà anh ta biết và hành động trong nó – phải được xem như là cái mà Jonas gọi là sự “tín thác” (“tài sản tin cậy của con người”) (ein menschliches Treugut), tức là một đối tượng của trách nhiệm. Thứ ba, như là một tồn tại tự nhiên, con người phải được quan tâm trong việc thiết lập mối quan hệ luân lý với tự nhiên; con người phải được quan tâm đích thực trong việc duy trì đời sống cá nhân của anh ta và có thể nhận ra rằng anh ta có mối quan tâm trong toàn bộ đời sống như một điều kiện của sự hiện sinh và sự sung túc của chính mình. Con người vừa là một phần của tự nhiên vừa ở bên ngoài nó, bởi vì tự nhiên được mang lại một cách khách quan vào trong trách nhiệm của anh ta. Ở đây, chắc chắn là Jonas đã chạm tới khía cạnh của tôn giáo mà chúng ta không có dịp theo dõi ở trong bài viết này.

Khía cạnh của những hàm ý siêu hình trong luận cứ của Jonas liên quan đến quan điểm của ông về bầu sinh quyển. Trong chừng mực mà ông dõi theo Kant trong việc bảo vệ ý kiến đối tượng của một hành động luân lý phải là con người. Từ lời khẳng định rằng tự nhiên là đối tượng của trách nhiệm và sự chăm sóc, đã dẫn ông đến kết luận bầu sinh quyển không phải là một công cụ cho những mục đích độc đoán của chúng ta mà nó là một mục đích tự thân. Bầu sinh quyển không phải là một nguyên liệu, một vũ trụ “chết”, mà những chức năng của nó tùy thuộc vào những quy luật cơ giới. Nó là một tổ chức hữu cơ, phần nào tồn tại nhờ sự tự duy trì nhằm xây dựng những cấp bậc loài khác biệt nhưng liên đới và những mô hình của sự sống, bao gồm những tồn tại có trí tuệ và luân lý. Do vậy, những giá trị có thể bắt nguồn từ những sinh vật tồn tại tùy thuộc vào đặc trưng riêng biệt của chúng: Mọi cá nhân sống biểu lộ mối quan tâm vốn có với đời sống, cả trong việc bảo tồn sự hiện sinh của họ và trong sự tự hiện thực đặc trưng riêng biệt của chính nó. Bởi vì trách nhiệm luân lý của loài người phải được bao hàm một cách tất yếu trong nhận thức chung của nó về đời sống như là một mối quan tâm là điều tất yếu đối với sự hiện thực hóa của đời sống con người đích thực và đời sống đích thực này chỉ xảy ra trong một bầu khí quyển không bị đe dọa, tức là không bị tác động một cách cơ bản bởi chính tự thân loài người.

Nhóm dịch Sociallife

Nguồn:http://nome.unak.is/nm-marzo-2012/vol-8-no-3-2013/69-conference-paper/445-responsibility-to-nature-hans-jonas-and-environmental-ethics

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie