Trách nhiệm với Tự Nhiên? Hans Jonas và Đạo đức học Môi trường (Phần 2)

Hans Jonas, một triết gia người Đức, đã dành công việc của mình để nghiên cứu về loài người trong thế kỷ XX phải nhận thức vị trí của chính họ trong tự nhiên như thế nào. Bản thân ông được miêu tả như là một nhà triết học với lối suy nghĩ “ngược dòng” (“Geden den Strom”). Lĩnh vực chủ yếu của ông là sinh học triết học. Ông cố gắng tranh luận về bản chất không thể quy giản của tự nhiên hữu cơ, điều mà tương thích với học thuyết tiến hóa của Darwin. Phê phán tân học thuyết tiến hóa về việc giản lược hiện tượng của cuộc sống vào trong hóa học và di truyền học, Jonas giữ quan điểm cho rằng về cơ bản thế giới hữu cơ được đặc trưng bởi sự sống và phần nào là sụ tự do (tranh đấu) và cho rằng một khoa học nhấn mạnh đến sự giải thích mang tính giản lược các hiện tượng tự nhiên vào trong những thuật ngữ của vật lý học là sai lầm. Jonas lập luận rằng mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng trong khi triết học tự nhiên truyền thống – Darwin – xem con người như một loài giữa các loài khác và mặc nhiên ít nhiều chấp nhận thuyết tân tiến hóa giải thích duy vật về cuộc sống và người tinh khôn, Jonas từ chối sự giản lược này. Thay vì xem con người như chỉ là một phần của bản chất phức tạp, ông nhấn mạnh rằng tự nhiên sở hữu một phẩm giá, ông “nuôi dưỡng” tự nhiên sống động, trong tự nhiên sống động ấy ông nhận thức nó cùng với một cái nhìn đối với loài người đã phát triển từ tự nhiên. Điều này làm cho Jonas nhấn mạnh vào sự không thể quy giản những đặc tính hữu cơ đặc biệt của sinh vật hữu cơ. Không chỉ con người mà cả loại tự nhiên hữu cơ, thực vật và động vật đều được đặc trưng bởi “tranh đấu”, thông qua cấp bậc tự do.

Nhìn chung, ý định của Jonas có hai phần: đầu tiên là phát triển một triết lý nhất nguyên chống lại thuyết quy giản trong cả triết học tự nhiên và nhân học triết học, và thứ hai là để phát triển một nền đạo đức trách nhiệm trong mối quan hệ với tự nhiên. Vậy ở cấp độ nào và bằng cách nào mà cái thứ hai bao hàm cái đầu tiên được xem xét, bởi vì theo Jonas một mối quan hệ đạo đức ngụ ý một ái lực giữa các phần liên quan. Jonas đã phát triển học thuyết siêu hình học nhất nguyên của mình thông qua một lời chỉ trích đối với truyền thống nhị nguyên lâu đời trong tư tưởng Âu châu vốn nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa con người với tự nhiên. Ông bắt đầu với nghiên cứu về lịch sử và phê phán triết học hậu cổ đại và cho thấy triết học thời kỳ này được lấy cảm hứng từ một suy nghĩ ngộ đạo như thế nào, cái mà tạo ra sức ảnh hưởng đến toàn bộ tư tưởng truyền thống của tư tưởng phương Tây. Theo Jonas, cả triết học hiện đại từ Descartes cho đến triết học tâm thức trong triết học lục địa (hiện tượng học) và triết học hiện sinh của Heidegger không thoát khỏi tính nhị nguyên có nguồn gốc trong thuyết Ngộ đạo. Mặc dù trong tác phẩm Tồn tại và Thời gian (Sein und Zeit) – mà Jonas đã tham dự những bài giảng của Heidegger – Heidegger rõ ràng có ý định khởi xướng một khởi đầu mới cho triết học bằng cách lấy điểm xuất phát của ông trong các câu hỏi về hình thức tồn tại của con người xét như một tồn tại trong thế giới, Jonas cho rằng Heidegger đã không thành công trong việc thoát khỏi di sản ngộ đạo. Thực ra dự phóng của Heidegger là vượt ra khỏi triết học tâm thức, bao hàm các tiền giả định về một chủ thể khép kín và độc lập, nhưng ông vẫn quan niệm thế giới từ viễn tượng của Dasein, tức là thế giới xung quanh, mà ý nghĩa nhìn chung được cấu thành thông qua “sự thực hiện bởi chính tự thân” của Dasein. Jonas phê phán triết học con người vốn xem con người là một phần độc lập khỏi tự nhiên và do đó khả năng độc lập của con người có nghĩa là sự tha hóa khỏi tự nhiên. Ông nghĩ rằng triết học của Heidegger cũng đại diện cho một vị trí như vậy.

Jonas phát triển bản thể luận của con người nhằm tránh những lập trường nhị nguyên – thuyết Ngộ đạo, triết học tâm thức (Bewusstseinsphilosophie) và chủ nghĩa hiện sinh. Nghĩa là một khái niệm con người như một thực thể mà trong ý nghĩa sâu xa nhất của khái niệm này thuộc về thế giới sống, bởi vì con người sống và nhận ra chính mình trong điều kiện tự nhiên, xã hội và văn hóa. Jonas lập luận rằng tất cả mối quan hệ đạo đức xuất phát từ thực tế cơ bản về sự tồn tại của con người mà ông đưa vào trong các mối quan hệ tự nhiên và xã hội. Con người với tính chủ quan của mình đã không thiết lập nên các đặc tính đạo đức của những mối quan hệ này, vì lẽ lý tính luân lý của con người đương đầu với nghĩa vụ của họ. Ngược lại, nghĩa vụ bộc lộ chính nó, ví dụ chăm sóc có nguồn gốc tự nhiên từ các mối quan hệ cơ bản của các bậc cha mẹ đối với thế hệ con cái. Mỗi thực thể sống từ các loài động vật đơn giản đến con người đều có kinh nghiệm chăm sóc như là điều kiện cơ bản để tồn tại và khả năng tự hiện thực của họ. Do đó, mỗi người phải hiểu rằng, anh ta cũng có một nghĩa vụ chăm sóc những thực thể khác trong mối quan hệ phụ thuộc tương tự như chính anh ta làm cho cha mẹ hoặc giáo viên của mình. Chăm sóc là một mối quan hệ bất bình đẳng, một phần dựa trên kiến thức và quyền lực (cha mẹ, giáo viên …) bởi lẽ bộ phận này cũng yếu đuối và phụ thuộc tương tự như những bộ phận khác.Và vì vậy, nó được đặc trưng bởi trách nhiệm. Những hành động đạo đức tuân thủ các nghĩa vụ có nguồn gốc trong các mối quan hệ bao gồm sự chăm sóc để tiếp tục tồn tại, sự sung túc và sự tự hiện thực (đào luyện ‘Bildung’) vì những phần khác yếu hơn.

Có những đặc tính của đạo đức Hy Lạp cổ đại trong lý thuyết của Jonas nhưng ông cũng nhận thức được khoảng cách với lịch sử cổ xưa. Trong khi các thành bang Hy Lạp tạo thành chân trời bên ngoài cho các ý tưởng về tự hiện thực thì thời kỳ hậu hiện đại vốn trải qua hiện tượng toàn cầu hóa đã mở rộng đường chân trời và đòi hỏi một sự thay đổi nhất định trong chương trình nghị sự, ngay cả khi chúng ta muốn chạm đến tính đích thực trong khái niệm của Hy Lạp cổ đại. Trong thế giới hiện đại, đạo đức học trách nhiệm được nhìn thấy không chỉ là mối quan hệ của cá nhân với một nhà nước hay quốc gia đặc biệt mà nó bắt nguồn. Ngược lại, những khung cảnh cho hành động của con người trong tính hiện đại là thế giới và trách nhiệm luân lý giải quyết vấn đề con người và kiểm soát toàn cầu của con họ về phát triển công nghệ và vật liệu trong chừng mực mà sự phát triển này mang về các khả năng cho cuộc sống và tự hiện thực của các thế hệ tiếp theo. Vì vậy, giờ đầy định hướng về mặt đạo đức bao hàm cả tương lai. Giống như sự chăm sóc của cha mẹ đối với con cái hướng vào tương lai tồn tại của chúng, sự sung túc và tự hiện thực, vì vậy con người có trách nhiệm cho điều kiện sống của các thế hệ tương lai. Và khi sự phát triển của công nghệ chắc chắn ảnh hưởng đến bản chất của toàn bộ bầu sinh quyển, bầu sinh quyển này bây giờ là đối tượng cho trách nhiệm của nhân loại. Tóm lại, các nghĩa vụ đạo đức hướng đến cuộc sống trên trái đất quan tâm đến sự tiếp tục tồn tại và thịnh vượng của các loài sinh vật.

Nghĩa vụ đạo đức là một phần dự án của Jonas để chẩn đoán tình hình thế giới cho nhân loại trong mối tương quan đến cuộc sống tương lai và sự sung túc trong bầu sinh quyển và để phát triển một đề nghị cho việc chăm sóc, một triết học tác động thực tiễn. Xem xét khái niệm công nghệ trong viễn tượng của tư tưởng lịch sử, Jonas lần theo sự thay đổi trong chức năng của công nghệ từ thời kỳ tiền hiện đại đến thời kỳ hiện tại. Trong khi kỹ thuật ở thời kỳ đầu được phát triển để giải quyết những vấn đề hạn chế trong các nghề thủ công khác nhau, ví dụ như một phương tiện để đạt được mục đích nhất định nào đó, thì giá trị hoặc chức năng của sự đổi mới mang tính công nghệ ở giai đoạn hiện đại sau này sẽ đảm nhiệm một đặc tính khác biệt. Nó trở thành một điều tốt ngay trong chính nó, bởi vì công cụ sản xuất ra những lựa chọn để chào bán chứ không phản ứng lại với những nhu cầu cơ bản. Ví dụ, không có nhu cầu cho những chiếc Ipad trước khi chúng được phát minh.Việc phát minh sản xuất nhu cầu mà nó thỏa mãn. Một tỷ lệ lớn các công nghệ sản xuất ngày nay chia sẻ giá trị này, nó không chỉ bao gồm trong các dụng cụ làm thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà còn tạo ra nhu cầu mới trong tiêu dùng và sau đó đáp ứng những nhu cầu này. Thiết bị kỹ thuật không đơn giản chỉ là giá trị như các dụng cụ mang lại cho đầu ra mà còn đại diện cho một giá trị tự thân, tức là kết cuộc của nó là đến người tiêu dùng và giá trị này được cấu thành bởi sản xuất công nghiệp phục vụ những lợi ích như tăng việc làm và tăng trưởng kinh tế.

Jonas đề nghị một phương thuốc để đảm bảo cân bằng sinh thái có thể bắt đầu bằng cách hỏi câu hỏi cơ bản Tại sao là công nghệ này? xét trên thực tế là sản xuất công nghiệp không kiểm soát không chỉ không có những tác dụng tích cực đến xã hội mà còn ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, sẽ là điều khôn ngoan để phản tư một cách phê phán vào quan niệm của ông về giá trị liên quan đến phát triển công nghệ. Trên quy mô lớn, thật không khó để nhìn thấy những lo ngại về tương lai và hạnh phúc của nhân loại và của bầu sinh quyển cung cấp những giá trị mà chúng ta cần như những thước đo cho một đánh giá giữa công nghệ thừa thãi là tốt hay xấu. Trong tác phẩm Nguyên tắc trách nhiệm (Das Prinzip Verantwortung), Jonas đề xuất khái niệm về trách nhiệm đạo đức đối với tự nhiên bằng cách chuyển đổi đạo đức của Kant. Ông thêm vào khái niệm của Kant về mệnh lệnh nhất quyết để cung cấp cho nguyên tắc một hình thức bản thể luận của riêng ông. Thứ nhất, ông thay đổi bối cảnh của nghĩa vụ luân lý trong đạo đức của Kant từ các mối quan hệ liên chủ thể đến mối quan hệ của con người với các thế hệ tương lai và cho toàn bộ bầu sinh quyển. Như chúng ta đều biết, các nghĩa vụ của yêu cầu luân lý trong đạo đức của Kant dựa trên những lý tính thuần túy. Điều này có nghĩa rằng mỗi cá nhân được phân biệt bởi lý tính có thể nhận thấy rằng anh ta phải đồng ý với đòi hỏi cho việc phổ quát hóa nguyên tắc hành động theo sau. Từ tri thức tiên nghiệm, hành động đạo đức nhất thiết phải theo sau. Vì vậy, ví dụ, để nói dối hay để phá vỡ một lời hứa là điều bất khả thi đối với ý chí của một hữu thể lý tính bởi vì hình thức phổ quát của nguyên tắc mà những hành động này thể hiện một cách hợp lý đã loại trừ khái niệm về tính trung thực và qua đó thủ tiêu những khái niệm đích thực về lời nói dối hay lời hứa, những khái niệm được định nghĩa như mặt đối lập với sự thật và trung thực. Vì vậy, đối với những lý tính hợp lý, một hữu thể lý tính chỉ có thể muốn sự thật và trung thực. Một phiên bản thứ hai của mệnh lệnh nhất quyết của Kant giải quyết vấn đề con người dựa trên chủ thể và khách thể của một hành vi đạo đức. Bởi vì những hành vi đạo đức chỉ giải quyết con người cả ở mặt chủ thể lẫn khách thể (người khác) được đặc trưng bởi khả năng lý tính của họ, những đối tượng của một hành vi đạo đức có khả năng tự quyết trên nền tảng lý tính. Do đó, họ có đủ điều kiện để có quyền không chỉ là một phương tiện đối với hành động của người khác mà còn được xem như là mục đích tối hậu trong bản thân của họ, tức là người có quyền quyết định và định hình cuộc sống của riêng mình.

Jonas đã tiếp quản hình thức mệnh lệnh nhất quyết từ Kant và ông cũng giữ lại ý tưởng về đối tượng được xử lý bằng hành vi luân lý, cụ thể là những cá nhân với năng lực và quyền tự quyết. Thế nhưng, ông phê phán đặc tính hình thức trong mệnh lệnh của Kant. Bởi vì mệnh lệnh của Kant không có năng lực để quy cho những hành động luân lý cụ thể phù hợp với việc xây dựng một đời sống đạo đức đặc thù. Kant tập trung vào một vài hành vi quan trọng của luân lý (ví dụ như lời nói dối hay lời hứa), bởi vì chúng có thể được kiểm tra thông qua logic và do đó, hậu thuẫn cho nỗ lực của ông nhằm phân tích lý thuyết đạo đức trên nền tảng những nguyên tắc của lý tính thuần túy. Jonas đã bác bỏ đặc tính duy lý một chiều trong đạo đức học của Kant. Việc đòi hỏi chủ thể luân lý phải là chính bản thân anh ta xét như một tồn tại có lý tính theo nghĩa ý chí của anh ta phù hợp với logic, cộng với việc thiếu vắng lời khuyên dành cho đời sống luân lý đặc thù đều là những dấu hiệu cho thấy Kant chưa thoát khỏi chủ nghĩa duy lý của Descartes và chủ nghĩa nhị nguyên và do vậy, ông thuộc về một truyền thống triết học xem con người là trung tâm (anthropocentrism).

Theo đạo đức học bản thể của Jonas, con người thuộc về thế giới trên mọi phương diện. Con người vừa duy lý, tức sở hữu năng lực tư duy và năng lực hành động có chủ đích dựa trên những nguyên tắc, thế nhưng, những năng lực lý thuyết này ắt sẽ trống rỗng nếu như nó không được lấp đầy bởi những lợi ích tiêu biểu cho con người như là một tồn tại thuộc về thế giới sống. Những ích lợi này bao gồm việc bảo tồn và làm phong phú thêm đời sống và sự tự hiện thực. Hơn thế nữa, con người kết nối hữu cơ với đời sống của những kẻ khác và ý thức của anh ta như đời sống văn hóa (tinh thần) cũng được cấu tạo bởi xã hội. Sự sung túc của đời sống cá nhân anh ta vừa phụ thuộc vào sự chăm sóc và sự thừa nhận từ kẻ khác và đồng thời thông qua việc cá nhân anh ta thực hiện những nghĩa vụ luân lý với kẻ khác. Do đó, chủ thể và khách thể của những hành động là những phần liên đới của toàn bộ đời sống mà nó đồng thời vừa bao hàm vừa duy trì. Vì thế, chúng ta cùng với những kẻ khác kiểm soát đời sống thông qua những nghĩa vụ luân lý. Trong chừng mực mà nghĩa vụ của trách nhiệm được chúng ta ưu tư, lúc đó nó được mang lại trong mối quan hệ liên chủ thể được đặc trưng bởi sự bất bình đẳng giữa hai nhóm liên quan đến tri thức và quyền lực. Nhóm mạnh hơn trong phương diện này có trách nhiệm với nhóm yếu hơn. Ý tưởng của Jonas có phần giống như phát biểu này: ‘Bởi vì tôi biết và tôi có thể, và vì lẽ tôi và kẻ khác gắn bó trong mối quan hệ tương giao với nhau, thế nên tôi phải nỗ lực để thực hiện điều mà tôi nghĩ là tốt nhất đối với kẻ khác’. Điều thú vị trong yêu sách của Jonas là bổn phận trên bao hàm trong nó vừa kẻ khác, vừa những thế hệ tương lai và toàn bộ bầu sinh quyển. Do vậy, phiên bản mới của Jonas về mệnh lệnh nhất quyết được phát biểu như sau: “Hãy hành động sao cho những ảnh hưởng trong hành động của bạn phù hợp với việc duy trì đời sống đích thực liên tục trên trái đất”. Điều này có nghĩa là hành động không phá hủy những thế hệ tương lai và toàn bộ những điều kiện của đời sống con người.

Peter Wolsing

Chuyển ngữ: Nhóm dịch SocialLife

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie