Trách nhiệm với Tự Nhiên? Hans Jonas và Đạo đức học Môi trường (Phần 1)

Bài viết này trình bày ý tưởng về một nền đạo đức học môi trường của nhà triết học Hans Jonas. Thông qua việc phác thảo về sự phát triển của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên từ thời Hy Lạp cổ đại cho đến nay, bài viết này lập luận rằng khoa học và công nghệ hiện đại đã ưu ái cho mối quan hệ của sự khai thác mà xét trong một chừng mực nào đó, điều này là nguyên nhân dẫn đến những sự biến đổi khí hậu thảm khốc. Qua khái niệm triết học của Jonas về một bản thể luận của con người như là một đối chọn với chủ nghĩa nhị nguyên cổ điển và dựa vào sự chuyển hướng đối với diễn giải mang tính bản thể luận về mệnh lệnh nhất quyết của Kant, bài viết lập luận rằng loài người có trách nhiệm cho cả thế hệ mai sau và bầu sinh quyển xét như cái toàn thể. Sự thay đổi mang tính bản thể này từ triết học tâm thức sang một bản thể luận của con người không chỉ vượt qua chủ nghĩa nhị nguyên trong triết học mà còn mở ra một luồng ánh sáng phê phán mới về việc phát triển công nghệ và đề nghị một phương pháp mới để xem xét vị trí của con người trong vũ trụ.

Kinh nghiệm về những sự biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng trên trái đất đã làm dậy lên những lời tiên đoán bi quan về sự phát triển của bầu sinh quyển nói chung và những câu hỏi về sự tồn tại liên tục của các loài sinh vật, đặc biệt là loài người trên trái đất. Bởi vì công nghệ tiên tiến của nền văn minh Tây phương, chí ít trong một chừng mực nào đó, là nguyên nhân không thể hoài nghi của những sự thay đổi đáng kể mà dường như đã đe dọa đến sự cân bằng sinh thái. Sự vô tâm của con người với tự nhiên không chỉ trở thành một vấn đề quan trọng trong những chương trình hội nghị thế giới mà nó cũng kích thích nghiên cứu trong việc phát triển các giải pháp công nghệ bền vững. Hay chí ít, nó là nguyên nhân của vô số những phản tư triết học về mối liên hệ cơ bản của con người với tự nhiên, vị trí con người trong vũ trụ. Một câu hỏi được đặt ra từ viễn tượng của Kitô giáo là con người có phải là vị trí độc tôn trong việc tạo ra mối quan hệ thống trị với tự nhiên hay Thiên Chúa đã chỉ định con người giữ vai trò của một người cai quản đối với thế giới đã được sáng tạo. Tuy nhiên, sự thế tục hóa đã chuyển dịch nhà thờ trong việc quản lý các vấn đề xã hội, điều này đã dẫn đến quan niệm cho rằng không có khía cạnh đạo đức về việc sử dụng của con người với tự nhiên mà chỉ là những kết quả duy lợi.

Một phản ứng thực dụng tiêu biểu đối với vấn đề làm thế nào để tránh hoặc hạn chế việc con người tạo ra những sự biến đổi khí hậu là lựa chọn các giải pháp kỹ thuật. Bởi vì, những nghiên cứu khoa học và công nghệ cung cấp cho chúng ta khái niệm về tự nhiên bao gồm các đối tượng vật chất mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu về vật chất của mình. Nhưng trong bốn mươi năm qua, sự phát triển công nghệ ngày càng cao đã làm cho sản xuất công nghiệp tăng đáng kể, cùng với sự toàn cầu hóa của nền kinh tế đã dẫn tới những hậu quả tiêu cực của sự phát triển này như ô nhiễm và thiếu hụt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đã làm cho mối quan hệ của con người với tự nhiên là chủ đề phải được xem xét dưới góc độ đạo đức. Trong bài này, tôi dự định đưa ra một ví dụ về một lý thuyết nhằm giải quyết khía cạnh đạo đức theo nghĩa xem tự nhiên như một đối tượng của trách nhiệm đạo đức và là một đối tác trong cuộc sống chung.

Những suy xét về mối quan hệ của con người với tự nhiên đã có từ thời cổ đại, trong khi người Hy Lạp cổ đại coi con người là một phần không thể thiếu của tự nhiên hay vũ trụ, thì những hình ảnh khoa học hiện đại trong thời kỳ đầu đã ngụ ý một sự thay đổi trong mối quan hệ này. Thế giới của con người – xã hội – đã coi mình như là một tồn tại đối lập với tự nhiên bên ngoài mà con người phải đạt được tri thức để sử dụng cho mục đích riêng của mình. Con người trở thành một chủ thể hoạt năng của tri thức và của sự can thiệp và tự nhiên tương ứng được sắp đặt là đối tượng của nghiên cứu và của sự can thiệp kỹ thuật. Con người coi mình là “bên ngoài” và thậm chí là đối lập với tự nhiên trong một cuộc cạnh tranh quyền lực để sinh tồn. Sự thay đổi trong đặc trưng của mối quan hệ, quan điểm của con người về chính mình thay đổi từ việc xem bản thân như là một phần không thể thiếu của cái toàn bộ (vũ trụ) sang một tồn tại tự trị, được đặc biệt phản ánh trong tư duy của Francis Bacon và Réne Descartes về giai đoạn hiện đại mới. Để phù hợp với các ngành khoa học mới, cả hai đều chuẩn bị cách tiếp cận cho một hình ảnh mới mẻ về thế giới, nơi mà sự thành công của nó đặc biệt là do thực tế rằng con người tạo nên một khả thể cho việc điều khiển quyền lực của tự nhiên vì lợi ích của nhân loại. Bacon đã công bố dự án mới với ý tưởng trung tâm đó là để vạch trần những “ngẫu tượng”, vốn cản trở sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật. Phương pháp mà ông đề xuất chứa đựng một lời chỉ trích có hệ thống về tất cả các loại định kiến, nhất là những định kiến xuất hiện trong vốn từ mơ hồ của ma thuật, giả kim thuật và tư tưởng kinh viện.

Sự từ chối của các hoạt động ngụy – khoa học này, vẫn còn cư ngụ ở các nhà khoa học trong thế kỷ của Bacon, sau đó đã được hậu thuẫn bởi nỗ lực của Descartes để tạo thành một sự đối chọn mang tính kiến tạo trong các hình thức của một khái niệm mới về nhận thức tự nhiên, cụ thể là một phương pháp dựa trên nguyên tắc hiển nhiên mà nguồn gốc của nó ở trong lý trí. Ông đã chứng minh rằng chỉ có một mô tả toán học của tự nhiên mới thỏa mãn các đòi hỏi của lý trí. Chủ nghĩa duy vật cơ giới mà phương pháp này ủng hộ tay trong tay đi với các dự án của Bacon vì nó tạo nên nền tảng cho khám phá khoa học về các chân lý có lợi cho con người. Khoa học tìm kiếm sự thật và tiện ích cho nhân loại tay trong tay đi với nhau vì các kiến thức giải thích nguyên nhân của các đối tượng cũng chính là những quy tắc cho việc sản xuất của các đối tượng này. Điều này áp dụng cho cả các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong đó chứng nhận giả thuyết và kỹ thuật sản xuất trong các ngành công nghiệp. Cả hai đều là các loại hình can thiệp vào tri thức và tiện ích. Điều này là quan điểm của Descartes vốn cho rằng một kết nối hiệu quả giữa lý thuyết và thực hành được thiết lập khi các kiến thức về cơ chế của tự nhiên sẽ làm cho con người trở thành chủ nhân của tự nhiên.

Nhằm thúc đẩy tiến bộ công nghệ và kinh tế, hình ảnh khoa học về thế giới đã trở thành một phần cơ bản của thời đại Khai minh ở thế kỷ thứ mười tám. Thời đại Khai minh diễn đạt sự tự hiểu về tính hiện đại ban đầu thông qua ý tưởng cho rằng kiến thức khoa học cung cấp cho nhân loại hình ảnh đích thực về thế giới và nó có lợi cho sự tiến bộ của các cá nhân và nhân loại. Mặc dù sự lạc quan này đã sớm gặp phải sự e dè của Phong trào Lãng mạn thời kỳ đầu, nó đã không được lưu ý cho đến khi kinh nghiệm của các vấn đề phát triển trong môi trường tự nhiên vào cuối thế kỷ hai mươi đã khiến cho nó trở thành vấn đề rõ ràng đối với các nhà khoa học và chính trị gia rằng phần lớn quan điểm tích cực của sự phát triển công nghiệp và kinh tế dựa trên đánh giá của các biện pháp liên quan đến những điều tốt đẹp cho xã hội con người và không dành chỗ cho sự đa dạng của các loài tự nhiên. Xã hội đã phân định bản thân nó từ tự nhiên. Vốn được xem như một nguồn tài nguyên vô tận dành cho nhân loại, nhưng tự nhiên đã được loại trừ khỏi xã hội. Mặc dù, trong thực tế xã hội phụ thuộc vào bản chất và tương tác với môi trường tự nhiên, nhưng tự nhiên không được tôn trọng như một đối tác của sự tương tác sống này.

Làm thế nào để viễn tượng phê phán mới này về mối quan hệ của nền văn minh với tự nhiên có thể xảy ra? Một phần của lời giải thích có lẽ là tự nhiên đã bắt đầu từ phản ứng chống lại sự lạm dụng của con người. Việc khai thác có thể được thực hiện bằng công nghệ tiên tiến đã đạt đến một mức độ mà nó đã bắt đầu có ảnh hưởng đáng kể đến bầu sinh quyển. Sự thiếu hụt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm là những hiện tượng đã làm chứng cho những giới hạn và tính mong manh của sự sống trên trái đất; nhiệt độ ngày càng tăng và các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt đã làm thay đổi điều kiện sống của chúng ta theo hướng tiêu cực. Một kinh nghiệm mới xuất hiện: tự nhiên không chỉ là một nguồn tài nguyên thụ động, một đối tượng vật chất để cho chủ thể hữu lý can thiệp, mà nó là một chủ thể hữu cơ có sự chủ động, tự nó phản ứng với sự xáo trộn của việc mất cân bằng sinh thái theo cách mà sự xáo trộn này ảnh hưởng đến cuộc sống và đe dọa sự sung túc của nhân loại. Chúng ta nhận thức được rằng chúng ta không ở “bên ngoài” và đối lập với tự nhiên. Những người ủng hộ quan điểm tự ý thức của thời Khai minh coi mối quan hệ của con người với tự nhiên là một cuộc đấu tranh quyền lực trong đó nhân loại sẽ thắng thế và vạch ra sự thịnh vượng vô tận cho nhân loại trong tương lai, đang dần được thay thế bởi sự bất an, sự dè dặt và thậm chí là sự khiêm nhường. Sự chuyển hướng của thế kỷ mang theo nó một cảm giác bất lực và bất ổn ngày càng tăng về số phận tương lai của bầu sinh quyển. Con người không còn hoàn toàn kiểm soát được tự nhiên mà bản thân nó còn là đối tượng của những hậu quả tiêu cực ngoài ý định trong hành động của nó với tự nhiên.

Như đã đề cập, các kịch bản phác thảo trên đã khơi dậy nhiều sự suy tư giữa những suy xét mang tính nhận thức luận của con người về những loại tri thức đang có. Thực tế là sự hiểu biết ngày càng tăng về những công trình của tự nhiên đã không dẫn tới những dự đoán về tình trạng khai thác công nghệ đối với bầu sinh quyển của tự nhiên, nhưng sẽ dẫn đến việc nhắc nhở chúng ta rằng các loại tri thức mà khoa học hiện đại đã vứt bỏ đã đi xa với các loại tri thức mà các nhà triết học Hy Lạp cổ đại gọi là minh triết. Biểu thị một loại tri thức làm cho đối tượng hiểu biết mình như là một phần của một tổng thể toàn diện, trong một trật tự tự nhiên hay “vũ trụ”. Theo người Hy Lạp, mục đích của sự minh triết không chỉ bao gồm trong một sự tích lũy vô tận của tri thức thực nghiệm về con người hay thế giới và nó cũng không chỉ đơn thuần là tri thức về quy luật tự nhiên cơ giới. Ngược lại, tri thức thực nghiệm nhằm cung cấp cho chủ thể nhận biết một cơ sở cho việc chiêm nghiệm, tức là một sự hiểu biết sâu sắc hơn về bản thân mình như một con người và vị trí của nó trong thế giới. Điều này hàm chứa một khía cạnh đạo đức. Đối với người Hy Lạp cổ đại, việc tìm kiếm tri thức mong muốn sự minh triết trong chừng mực những tri thức làm cho anh ta có khả năng sống tốt và hiểu mình như một phần không thể thiếu của – và đại diện trong – một loại hình trật tự cao cả, trước hết là các thành bang (thể chế thành phố) và thứ hai là vũ trụ. Không kiểm soát nhưng chiêm nghiệm và nâng cao đời sống tự nhiên và xã hội là mục tiêu thực tế nên dựa trên tri thức lý thuyết. Điều này có nghĩa rằng việc tìm kiếm khoa học cho tri thức là một phần không thể thiếu của một trí tuệ ở cấp bậc cao hơn. Một hàm ý đạo đức của sự khôn ngoan này được thể hiện trong quan niệm sophrosyne, sự tiết độ, và là kết quả của những giới hạn mà một người đàn ông khôn ngoan sẵn sàng đặt trên những ham muốn của mình và do đó, còn là về việc sử dụng kỹ thuật với tự nhiên. Người đàn ông khôn ngoan là người biết rằng có những biện pháp ứng xử cho cuộc sống bên ngoài mà anh ta không nên thực hiện. Nếu không anh ta sẽ phạm tội chống lại những luật lệ của thánh thần.

Dường như có những dấu hiệu của một mối quan tâm nhắc lại quan điểm của thế giới Hy Lạp cổ đại. Chí ít là có ý kiến cho rằng việc hiểu bản chất của tự nhiên nên chứa đựng nhiều hơn là chỉ hiểu biết về những sự kiện và những sự cơ giới của tự nhiên và cũng nên hướng trực tiếp đến sự nhận thức tổng thể, về đối tượng đang biết là một phần của tổng thể. Những diễn đạt như “sự cân bằng sinh thái”, “sự bền vững” trong sản xuất công nghiệp và thảo luận về những nguồn năng lượng thay thế và như dấu chỉ về một sự phát triển của một nhận thức rằng thế giới chúng ta đang sống là một cá thể đặc biệt mong manh, là cái toàn bộ mà qua đó mỗi cá thể sống có sự tồn tại riêng và việc sở hữu sự toàn vẹn hữu cơ là một điều kiện cho sự sung túc của nhân loại. Theo viễn tượng đó, con người và tự nhiên là những phần phụ thuộc lẫn nhau trong toàn bộ hữu cơ này. Sự đa dạng về nguồn gốc sinh học của các loài phụ thuộc vào mức độ đối đãi với tự nhiên của con người, và ngược lại sự khỏe mạnh của loài người phụ thuộc vào việc thay đổi những điều kiện bầu sinh quyển liên quan đến dinh dưỡng và sức khỏe của anh ta.

Nhưng mặc dù đã có những nỗ lực để phát triển kỹ thuật bền vững và những cố gắng khác để giảm nhẹ sự ô nhiễm và tiêu thụ, hình ảnh khoa học truyền thống về con người so với tự nhiên như là mối quan hệ của sự điều khiển vẫn phổ biến trong thái độ được nuôi dưỡng bởi nghiên cứu và kỹ thuật hiện hành, vì lẽ những doanh nghiệp chủ yếu được tài trợ bởi công nghiệp và được hỗ trợ bởi mối quan tâm về sự phát triển kinh tế của cư dân thành phố và những nhà chính trị gia. Do đó, một nhiệm vụ rõ ràng cho triết học là nó có thể phản ánh khả thể của những lối suy nghĩ mới về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong lý thuyết và thực tiễn để thúc đẩy một nhận thức mới có thể ảnh hưởng cuộc sống của chúng ta trong bầu sinh quyển theo chiều hướng tích cực. Triết học có thể đề nghị và phản ánh tối thiểu hai mặt của vấn đề này. Đầu tiên, khía cạnh siêu hình về vị trí của con người trong tự nhiên. Phải chăng về bản chất con người và tự nhiên là tách rời hay có thể quan niệm con người và tự nhiên trong một siêu hình học nhất nguyên? Thứ hai là về khía cạnh đạo đức. Liệu rằng nó có thể cung cấp một tranh luận đạo đức về thái độ của việc chăm sóc hoặc che chở tự nhiên để bảo vệ cuộc sống liên tục và sự thịnh vượng của loài người và tự nhiên trong một bầu sinh quyển với một sự đa dạng cao của các loài? Và những hành vi đạo đức này sẽ giải quyết điều gì ? Các thế hệ tương lai hay bầu sinh quyển xét như là cái tổng thể? Tóm lại, phải chăng điều này có nghĩa là tự nhiên có thể là một đối tượng của trách nhiệm luân lý?

(còn tiếp)

Peter Wolsing

Chuyển ngữ: Nhóm dịch SocialLife

 

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie