Tang lễ Công giáo – những nghi lễ kép – Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai [Phần ba]

Xem thêm 

Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai – NGUYỄN ĐỨC LỘC[Phần một]

 Nghi lễ kép trong hôn nhân – Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai [Phần hai]

Tang lễ

Tín đồ Công giáo cho rằng, việc chịu phép xức dầu của các bệnh nhân là công việc hết sức quan trọng đối với những người sắp chết. Họ cho rằng lo liệu cho người sắp chết lãnh nhận bí tích sau cùng là nghĩa vụ của cộng đồng mà trước hết là con cháu thân nhân của người đó, với quan niệm lãnh nhận bí tích này sẽ an tâm trước khi nhắm mắt, xuôi tay. Đây cũng là nghi thức sau cùng của người Công giáo trước khi qua đời bởi Bí tích chỉ thực hiện cho những người còn sống mà thôi.

Đối với người Công giáo ở Hố Nai, khi tiếng chuông sầu ngân vang từng hồi vọng khắp nơi theo quy ước “Nam thất, nữ cửu”, (đàn ông bảy tiếng chuông, đàn bà chín tiếng chuông) tin buồn được loan báo trong khu xóm, giáo xứ để mọi người trong xứ đạo dù đang làm việc gì thì cũng tạm ngưng công việc để cầu nguyện cho người anh em trong giáo xứ mới qua đời. Người công giáo ở Hố Nai vẫn còn giữ tính cộng đồng rất cao, khi trong giáo xứ có người qua đời mọi người chẳng ai bảo ai tới nhà đám chia buồn và cùng nhà đám dựng nhà rạp để cho những người trong giáo xứ, họ hàng thân nhân tới chia buồn và đọc kinh cầu nguyện cho người mới qua đời.

Tương tự  như các tín đồ Công giáo miền Bắc, tín đồ Công giáo Hố Nai khi có người thân qua đời thì việc đầu tiên mà mỗi gia đình phải làm là lập ban tang lễ nhằm phụ trách, điều hành việc tang ma cho người thân của mình. Trong ban lễ tang có người hộ lễ, người thu lễ và người chấp hiệu.

Người hộ lễ là người thay mặt gia đình điều hành những công việc cần thiết trong tang lễ. Vì thế phải chọn người có tuổi, có uy tín và kinh nghiệm. Đối với những người theo Công giáo thì người hộ lễ thường là người trưởng giáo họ và được gọi là “ông trùm”.

Người thu lễ là người tiếp khách, đặt lễ trên bàn thờ, ghi tên, tuổi, địa chỉ, tiền lễ của những người phúng viếng, sau đó báo cho gia chủ biết để sau này nếu có dịp thì tạ ơn. Nếu có nhiều người đến phúng điếu gia chủ phải phân công một số người thân thuộc, hiểu biết, nhanh nhẹn để tiếp khách và việc tiếp khách này cũng là sự thể hiện của gia chủ đối với những người tới nghi lễ, cho dù sự đau buồn về người thân mình qua đời đang bao phủ không khí của gia đình.

Người chấp hiệu là người chỉ huy việc đưa quan tài từ nhà ra xe, kiệu, việc lên kiệu, đi đứng, hạ huyệt… làm thế nào để giữ quan tài cho ngay ngắn. Ơ Hố Nai, việc này thường do một người trong giáo khu phân công phụ trách công việc này, thông thường là đàn ông lớn tuổi.

Vào lúc 14 giờ tại giáo khu Giuse ở giáo xứ Ngô Xá có người qua đời. Theo thông lệ mỗi khi có người chết, ông trưởng giáo khu có nhiệm vụ sắp xếp thì giờ đi loan báo cho mọi người trong ban trị sự giáo khu để tìm kiếm  những đồ liên quan đến đám tang và phúng biếu. Họ chuẩn bị khá chu đáo. Trong giáo xứ có truyền thống hễ nhà ai có người chết thì cha xứ và tất cả mọi người trong giáo xứ đều đến đọc kinh cho nhà hiếu (Trích nhật ký điền dã, 01/04/2007).

Sau khi lập xong ban tang lễ sẽ tiến hành nghi thức mộc dục cho người chết. Đó là lễ tắm rửa cho người quá cố. Khi tiến hành phải chuẩn bị những dụng cụ như sau: dải lụa hoặc vải để buộc tóc, hai khăn vải trắng để tắm và lau mặt, một nồi nước ấm cùng các vật dụng lặt vặt như lược, thau, dụng cụ cắt móng chân móng tay… Việc tắm rửa tiến hành cũng đơn giản, chỉ cần dùng khăn ướt lau mặt, chải tóc rồi buộc lại cho ngay ngắn (nếu là phụ nữ), sau đó lau đến thân thể và tứ chi. Cuối cùng chú ý cắt móng chân móng tay cho sạch sẽ rồi lấy quần áo mới cho người chết mặc. Tóc rụng và móng tay móng chân đều được cho vào khăn và bỏ vào quan tài sau này. Thân thể người chết được bọc kín bằng vải lụa trắng và để nằm trên giường, khi nào khâm liệm mới cho vào trong quan tài.

Sau đó gia chủ cho dán cáo phó, loan báo việc tang chế, ngày giờ mất, khi nào động quan, nơi an táng…Trong cáo phó ngoài việc đề tên người mất còn ghi tên thánh của họ trước tên khai sinh. Tên thánh của người chết được lấy theo tên thánh của cha hoặc mẹ họ.

Khi tới giờ khâm liệm người hộ lễ sẽ đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết. Sau khi đọc kinh xong, ông sẽ làm phép vẩy lên người chết một ít nước, gọi là “nước thánh” . Tiếp đó người chết được đưa vào nằm trong quan tài, quan tài được đặt ở giữa nhà nhằm thuận tiện cho khách khứa đến phúng viếng. Khâm liệm và nhập quan xong thì con cháu và thân thuộc của người chết mới bắt đầu mặc tang phục, gọi là phát tang.

Trước linh cữu người chết là bàn thờ, trên bàn thờ có đặt di ảnh của người quá cố, phía trước để bát hương. Phía ngoài có sáu cây nến, trái ba cây, phải ba cây và đôi bình bông, trong đó có cắm những bông huệ trắng. Phía sau bàn thờ là bức trướng có hình chúa Giêsu bị đóng đinh câu rút trên cây thánh giá và dòng chữ “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”.

Từ khi phát tang thì con cái cùng những người thân thích của người qua đời phải mặc tang phục.

Sau khi đã phát tang, những người thân, bạn bè người quá cố và gia chủ lần lượt vào viếng người qua đời. Khi đó, con cái người quá cố đứng bên trái linh cữu người chết và ngoảnh mặt về phía khách để đáp lễ. Phẩm vật hay tiền bạc phúng điếu được đặt trước linh tọa và có người ghi vào sổ sách. Khách phúng viếng xong được mời ra ngoài hút điếu thuốc và uống tách trà chia buồn cùng gia đình. Trong suốt thời gian chưa chôn cất thi hài người quá cố, mọi người, mọi giới trong giáo xứ theo chương trình chung của giáo xứ lần lượt tới đọc kinh viếng xác. Còn đối với nhà đám thì luôn túc trực bên thi hài người thân để tiếp bà con chòm xóm tới viếng xác và chia buồn.  Trong thời gian này, những người thân của người quá cố phải chịu tang tùy theo vai vế đối với người quá cố mà có chịu tang và thời gian chịu tang tương ứng theo truyền thống của người Việt. Một vài trường hợp do ảnh hưởng của tâm lý, văn hóa nông nghiệp, người ta còn quấn những vải trắng cho những cây cối trong vườn mà người qua đời đã trồng khi còn sống. Người ta quan niệm nếu không “đeo” tang cho những cây cối thì cây sẽ héo và chết đi theo chủ của nó. Đây có thể xem là những biểu hiện văn hóa nông nghiệp còn sót lại, một phần nào đó nói lên tình cảm của con người với thiên nhiên và ngược lại.

Vào buổi tối, những người thân thuộc trong gia đình có tổ chức đọc kinh để cầu nguyện cho người chết. Lễ này thường được tổ chức lúc khuya, tầm 11 giờ đến 12 giờ đêm vì giờ này có ít khách đến phúng viếng.

Khi tới giờ đưa tang, người chấp hiệu sẽ dùng hai thanh gỗ ngắn gõ vào nhau để điều khiển các đô tuỳ khiêng quan tài người chết từ trong nhà lên xe tang để đưa đi chôn cất. Người chấp hiệu sẽ đi trước áo quan, vừa đi vừa gõ hai thanh gỗ ngắn ra hiệu cho các đô tuỳ khiêng quan tài sao cho cân bằng.

Dẫn đầu đoàn đưa tang là ba người đàn ông lớn tuổi cầm “thánh giá nến cao” bao gồm một người cầm một cây trượng dài, trên đầu trượng có hình cây thánh giá. Hai bên phải, trái là hai người, mỗi người cầm một cây trượng khác, bên trên mỗi cây trượng có gắn một cây nến hoặc đèn dầu loại nhỏ. Tiếp đó là một chiếc cờ tang màu đen, hoặc màu tím.  Theo sau cờ tang là kèn trống, và các vòng hoa. Rồi đến bát hương và di ảnh của người chết, thường do con cháu người chết cầm. Sau đó là tới người chấp hiệu, vừa đi vừa điều khiển các đô tuỳ khiêng quan tài cho ngay ngắn, cẩn thận. Quan tài được khiêng từ nhà của người chết đặt lên kiệu hoặc xe tang. Theo sau xe tang là thân nhân người quá cố và cuối cùng là những người đưa tiễn.

Song song với việc tổ chức lễ tang tại gia đình thì người ta cũng chuẩn bị lễ tang tại nhà thờ và nơi an nghỉ cho người quá cố. Đối với người Công giáo Hố Nai người ta chưa chấp nhận được việc sau khi người thân qua đời thì đem hài cốt đi thiêu mà họ chỉ an táng người thân mình xuống lòng đất vì mỗi xứ đạo đều có nghĩa trang riêng nên người ta chôn cất người thân tại nghĩa trang của giáo xứ. Việc này cũng tạo cho người thân sự an tâm trong việc đưa tiễn người thân của mình về nơi an nghỉ cuối cùng. Việc chuẩn bị phần đất cho người thân của mình an nghỉ đời đời, nhà đám phải thực hiện đúng quy định của giáo xứ như khi gia đình có người qua đời thì phải báo cho ông Trùm họ, để ông Trùm họ viết giấy báo tử để báo hội đồng giáo xứ và cha xứ, sau đó cha xứ thông báo tin buồn trong giáo xứ cho các giáo dân khác trong thánh lễ gần nhất. Kế đến, nhà đám phải đến ông phó chương phụ trách đối nội để nhận kim tĩnh (chỗ đào huyệt) và trình cha xứ để định giờ nhập quan, an táng. Việc định giờ an táng đều do cha xứ quyết định, thông thường việc chôn cất trong vòng 48 tiếng, nếu quá hạn khi đưa quan tài đến nhà thờ thì phải để quan tài ngoài nhà thờ vì yếu tố vệ sinh chung cho cộng đoàn.

Đối với người Công giáo Việt Nam, nhà thờ chiếm một vị trí hết sức quan trọng, mọi nghi thức trọng đại trong đời người đều được tổ chức tại nhà thờ với sự chứng kiến của cộng đoàn giáo xứ, chẳng hạn khi mới sinh ra thì trẻ sơ sinh được cha mẹ đưa tới nhà thờ để chịu bí tích rửa tội, lớn lên lập gia đình thì tới nhà thờ làm lễ cưới… chính vì thế, khi chết đi người ta càng mong được cộng đoàn giáo xứ đưa đến nhà thờ và được mọi người tháp tùng quan tài đến nơi an nghỉ cuối cùng  tại đất thánh (nghĩa trang) của giáo xứ

Việc đưa thi hài đến nơi an nghỉ cuối cùng cho người quá cố được thực hiện rất nghiêm trang, mọi người xếp hàng trật tự vừa đi vừa đọc kinh cho người quá cố. Sau đó khi đưa thi hài người quá cố xuống lòng đất thì cộng đoàn mỗi người lấp cho người quá cố một nắm đất, một nhánh hoa với quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận”, “nay người, mai ta”.

Trong đợt điền dã vào tháng 3 năm 2007, chúng tôi đã quan sát một trường hợp cụ thể là đám tang của một người lớn tuổi tại giáo xứ Lai Ổn như sau:

5 giờ sáng tôi thức dậy và đi lễ. Hôm nay cũng là buổi lễ đám tang cho một ông lão trong giáo xứ. Vì là lễ sớm, nên mọi người trong xứ đi rất đông, một nửa nhà thờ là người đội tang, riêng con cái thì mặc áo màn, đeo tang màn. Khi lễ xong thì mọi người tiễn ông ra nghĩa trang, đoàn rước rất dài, đi đầu là thánh giá nến cao. Đến cờ tang, thiếu nhi, giới trẻ, gia trưởng, ban kèn tây, cụ lão, quý khách, xe tang, gia đình. Ra đến nghĩa trang cha làm một vài nghi thức nữa và rồi tiếng lệnh nổi lên, khoảng 9, 10 thành niên to khoẻ của gia đình di quan tài ra huyệt và những người thân quen trong xứ giúp thả quan tài xuống huyệt kim tĩnh đã xây sẳn, sau đó cả gia đình ông Bích gồm: bà vợ và vợ chồng con cái, cháu chắt quỳ trước huyệt bái nhang, có hai người phụ nữ đã khóc đến ngất xỉu. Sau đó gia đình về nhà, chỉ còn lại 3 anh em trai cùng với người quen, bạn bè bắt đầu xúc cát lấp huyệt. Sau khi xong, mọi người kéo nhau về nhà và dùng cơm gia đình. Tôi thấy họ hàng, ban kèn, bà con đưa đám về và những người phụ giúp có khoảng chừng 15 bàn. Sau đó chừng 8 giờ thì mọi người trở về nhà (Trích nhật ký điền dã, tháng 3/2007).

Như vậy đám tang không chỉ là nghi thức đưa tiễn người quá cố về thế giới bên kia mà nó còn là dịp để cho người sống gắn bó giúp đỡ nhau, đàm thoại, cùng ăn uống, an ủi lẫn nhau. Bởi sau khi an táng người chết, vào buổi tối những người thân thích, họ hàng của gia chủ cùng những người hàng xóm láng giềng sẽ tập trung ở nhà người chết đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết, dưới sự chủ trì của người hộ lễ. Việc đọc kinh này kéo dài trong ba ngày liên tiếp tính từ ngày an táng người chết và thường đọc từ 7 giờ đến 9 giờ tối. Đọc kinh xong gia chủ mời những người tới đọc kinh ở lại dùng bánh kẹo và uống chén nước.

Có thể nói, đám tang người Việt Công giáo tại Hố Nai thể hiện sự cố kết cộng đồng rất cao. Nét văn hóa truyền thống Bắc bộ được thể hiện thông qua lễ nghi tôn giáo một cách hài hòa, vừa tuân thủ lễ nghi tôn giáo vừa lưu giữ tập tục, văn hóa, tâm lý của người Việt truyền thống.

Như thế, chúng ta thấy người Việt Công giáo tuy phải tiếp nhận một nền văn hóa khác đến từ phương Tây nhưng họ đã linh hoạt gắn kết các nghi thức đó với những phong tục tập quán văn hóa dân tộc một cách bền chặt. Chính điều này tạo ra nét riêng của tín đồ Công giáo trong việc thực hiện các nghi lễ chuyển đổi trong đời người là những nghi lễ kép. Những nghi lễ này phản ánh sự song hành hai hệ giá trị giữa tín lý Công giáo và truyền thông văn hóa dân tộc. Nhưng có vẻ như quá giản đơn khi vật thể hóa hai hệ giá trị này chồng lấn lên nhau như hai thực thể siêu hữu cơ nương vào nhau mà vận hành. Mà thật ra nghi lễ trong đời sống tinh thần của tín đồ cần phải đặt trong bối cảnh của đời sống đạo của tín đồ với cái nhìn hậu cảnh từ những nghi lễ.

PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc – ĐH KHXH&NV TP.HCM

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie