SOCIALLIFE REVIEW

Trung Quốc đã học được gì từ thành công của những người hàng xóm Đông Á?

Khi Trung Quốc bắt đầu thoát khỏi giai đoạn bế quan tỏa cảng của tư tưởng Mao vào năm 1979, các quan chức chính phủ và các học giả bắt đầu du hành khắp thế giới. Họ nhanh chóng nhận ra rằng, về mặt kinh tế và công nghệ, Trung Quốc đã tụt hậu quá xa không chỉ với các cường quốc phương Tây vốn mạnh từ trước mà còn so với một số nước láng giềng nhỏ hơn ở Đông Á: Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Cả ba quốc gia đã trải qua bùng phát kinh tế kéo dài kể từ khi nổi lên từ đống đổ nát của chiến tranh vào đầu những năm 1950. Vào năm 1979, Nhật Bản đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và dường như sẵn sàng đoạt lấy quyền lãnh đạo công nghệ toàn cầu từ Hoa Kỳ. Hàn Quốc, dưới sự lãnh đạo tùy hứng, hà khắc, và thỉnh thoảng thất thường của Tổng thống Park Chung Hee (1961–1979), đã từ một nước nghèo nhất châu Á trở thành một cường quốc công nghiệp mới nổi. Bất ngờ nhất, Đài Loan, một tỉnh nông nghiệp bần cùng vào năm 1949 khi chính phủ Quốc dân đảng bị đánh bại của Tưởng Giới Thách tị nạn tại đó sau khi thua trong cuộc nội chiến với những người Cộng sản, thì bấy giờ là một nước thu nhập trung bình phát triển mạnh trên ngưỡng cửa trở thành một nước xuất khẩu mặt hàng điện tử quan trọng.

Những thành tựu phát triển của Đông Á hiện nay được biết đến một cách khái quát, nhưng tầm quan trọng và tính độc đáo của thành tựu này vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Việc tạo ra tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và kéo dài qua nhiều thập kỷ là khó khăn; sự nhảy vọt từ tình trạng nghèo đói đến câu lạc bộ của các quốc gia giàu nhất – kiểu tăng trưởng “bắt kịp” hoặc “hội tụ” – là một kỳ tích hiếm hoi. Một nghiên cứu về các nền kinh tế bắt kịp cho thấy giữa năm 1970 và 2010, chỉ có mười bốn quốc gia đã xoay xở để tăng thu nhập bình quân đầu người của họ so với Hoa Kỳ từ 10 điểm phần trăm trở lên. Bảy trong số này là các nước ngoại vi ở châu Âu mà có lẽ được hưởng lợi từ hiệu ứng tràn do sự bùng nổ lớn của kinh tế châu Âu sau chiến tranh và từ quá trình hội nhập kinh tế tiến triển trong Liên minh châu Âu. Một nước khác là Israel, có lẽ cũng được hưởng lợi từ sự gần gũi với châu Âu. Sáu nước còn lại đều ở Đông Á, và đến nay các nước có tăng trưởng nhiều nhất về thu nhập tương đối là Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong giai đoạn này, các nước duy nhất trên toàn thế giới nhảy từ “nghèo” (được xác định là 10% hoặc ít hơn so với GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ) sang “giàu” (50% GDP đầu người của Hoa Kỳ) là Đài Loan và Hàn Quốc (xem Bảng 1.1).

                   

Bảng 1.1: Các nước tăng trưởng đón đầu thành công: GDP bình quân đầu

                     người ở Sức mua tương đương, % so với Hoa Kỳ.

 

Quốc gia

Mức thấp trước 1970

Trung bình 2008-2010

(%)

Tăng điểm phần trăm

Các nước xuất khẩu châu Á

Đài Loan

9

68

+59

Nhật Bản

21

72

+51

Malaysia

9

29

+20

Trung Quốc

2

18

+16

Thái Lan

5

19

+14

Châu Âu ngoại vi

Áo

44

99

+55

Tây Ban Nha

29

68

+39

Hy Lạp

29

65

+36

Phần Lan

45

79

+34

Bồ Đào Nha

19

48

+29

Ý

40

69

+29

Israel

34

60

+26

Romania

10

25

+15

                     Nguồn: Trích từ Batson (2011)

           

Điều gì là nguyên do cho sự thành công độc đáo của các nền kinh tế Đông Á, so với tất cả các nền kinh tế đang phát triển không thuộc châu Âu khác? Một cách giải thích thuyết phục là cả Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc đều áp dụng những dạng khác nhau của cùng một mô hình được gọi là “nhà nước kiến tạo phát triển” (developmental state), một thuật ngữ được nêu ra bởi nhà kinh tế Robert Wade vào năm 1988. Nghiên cứu tiếp theo đã cho thấy mô hình tăng trưởng kinh tế nhà nước kiến tạo phát triển tại Đông Á thành công có ba trụ cột: cải cách ruộng đất, chế biến xuất khẩu và áp chế tài chính.

Trích dịch từ: China's Economy: What Everyone Needs to Know của tác giả  Arthur R. Kroeber  được dịch bởi Đào Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Vương Tuấn, Nguyễn Xuân Định, Nguyễn Thiện An.