SOCIALLIFE REVIEW

Đọc câu chuyện cuộc đời của gã giang hồ của làng Triết học.

Tên tuổi của Dương Ngọc Dũng trở nên phổ biến với tầng lớp bình dân ngoại đạo - không học Nhân học, Triết học, hay Tôn giáo học, như mình – từ việc ông là người hướng dẫn tham quan chùa Ngọc Hoàng cho cựu tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trong chuyến viếng thăm Việt Nam, một sự kiện chính trị được truyền thông săn đón và có hiệu ứng đám đông rất thành công. Chuỗi các bài báo kéo dài nhiều kỳ và gây tranh cãi dữ dội về diễn biến của cuộc hướng dẫn khiến ông trở thành một nhân vật truyền thông. Việc tấn công cá nhân ông khiến mình khó chịu và phải search Google để tìm kiếm thông tin ông là ai? Ông là người nổi tiếng và mình nên biết, vậy thôi. Ông ra mắt sách, mình không định đọc vì cảm thấy chưa đủ lượng kiến thức nền để đọc. Hơn nữa, mình chỉ đọc hồi ký của một nhân vật khi họ đã đi qua đỉnh cao. Đến khi thầy của mình tặng cho quyển sách này.


Viết cảm nghĩ cho quyển sách này là một thử thách với mình, không những bởi độ khó của những kiến thức liên quan đến triết học, mà còn là việc tự nỗ lực vượt qua định kiến cá nhân để đọc hiểu nội tâm tư tưởng của một người đàn ông lắm tài nhiều tật. Tuy rất ủng hộ sự tự do của ái tình nhưng mình là một người phụ nữ truyền thống, tuân thủ nghiêm ngặt lễ giáo hôn nhân, xem trọng trách nhiệm của người làm phụ mẫu.


Như thầy mình viết: “Ai cũng có câu chuyện để kể và có khả năng lý giải về những điều mà cuộc đời mình đã trải qua. Câu chuyện mỗi người không hẳn là trang sử toàn vẹn của xã hội nhưng có thể là một mảnh ghép, một tiếng nói đơn thanh góp chung vào bức tranh đa thanh của đời sống xã hội”. Hẳn nhiên, mình không có khả năng để bình luận về con đường nhận thức chân lý của Dương Ngọc Dũng, càng không có tò mò về chuyện riêng tư đời ông - không phải người trong cuộc, chúng ta không có quyền phán xét ai, bài viết này đơn thuần là cảm nghĩ khi đọc câu chuyện về cuộc đời ông, để bản thân mình “tự rút ra những bài học riêng tư và có thể chia sẻ cùng ông với tư cách một thân phận con người – đầy đủ sự yếu đuối và mạnh mẽ trong tâm hồn”. 


-----------------------------


Trước hết, đây không phải là hồi ký, việc kể lại từ thời thơ ấu của ông chỉ nhằm làm rõ cơ sở và quá trình nhận thức của ông. Và như chính ông nói: “Câu chuyện tôi kể cho các bạn không phải là tiểu sử, nó đúng nghĩa là một câu chuyện, tức là có yếu tố hư cấu. Hư cấu không phải là nói dối. Hư cấu là cách người kể chuyện lựa chọn một góc độ khi kể về quá khứ của mình.” Đọc quyển sách này, với thân phận vãn bối, có thể tìm thấy một ý nghĩ mới mẻ cho bản thân mình thôi là đủ rồi, không cần bị quấy nhiễu bởi những điều vụn vặt.


Thứ hai, khác với nhiều quyển sách mang tham vọng có yếu tố học thuật khác, quyển sách này được viết theo hình thức phỏng vấn, hình thức mà ông thích, “học hỏi để thay đổi bản thân, nếu may mắn thì sẽ thay đổi được người khác và như vậy hình thức tốt nhất là nói chuyện”. Chính vì vậy, dù lượng kiến thức chuyên ngành lớn, nhưng việc chuyển tải những nội dung xuất sắc qua cuộc nói chuyện đã tạo được điểm nhấn khiến người đọc vẫn có thể tiếp nhận được. Một góc nhỏ khác, mặc dù không thể dẫn chứng quá rõ ràng, nhưng mình cảm nhận ông là một người hài hước, những câu trả lời của ông rất thú vị, có khi làm mình bật cười.


Thứ ba, là quyển sách đầu tiên mở màn dự án Những câu chuyện cuộc đời của SocialLife, quyển sách dành một phần đáng kể để giới thiệu dự án. Thay lời giới thiệu của TS. Phạm Văn Quang có thể làm choáng ngợp và chùn bước độc giả phổ thông ngay từ những trang đầu. Nhưng lời mời gọi về ngôn ngữ tự cho phép “cách hiểu của tôi về lịch sử cuộc đời gợi ý rằng chúng ta cần chú ý đến những sự im lặng cũng như những điều được nhắc đến, chúng ta cần chú ý đến cách câu chuyện được kể cũng như điều gì được nhắc đến hoặc không nhắc đến và chú ý đến những căng thẳng và những mâu thuẫn hơn là quy phục trước cám dỗ của khát khao về câu chuyện hoàn hảo” – Munro (1998), đã làm cho chúng ta đủ kiên nhẫn để lật giở những trang về sau.


----------------------


1. Quyển sách này không dành cho số đông vì ông hẳn là một nhân vật gây nhiều tranh cãi. Có thể tùy tiện bốc ra hàng loạt luận điểm mà ông đưa ra trong quyển sách này đều có thể khơi mào những cuộc tranh luận triền miên. Nếu không có một cái đầu rộng mở thì dễ gay gắt với ông. Có thể nói, bài học đầu tiên của quyển sách này là chấp nhận điều khác biệt, học cách chung sống cùng nhau bằng cách lắng nghe, vì như một định mệnh, “chúng ta là anh em”.


2. Quyển sách này hé mở khá nhiều mặt tối trong đời sống cá nhân của ông. Thật không dễ dàng gì khi đang đứng ở đỉnh cao danh vọng, lại vạch trần để người khác săm soi. Nhưng mình rất thích điều này, không phải vì tính giật gân của nó, mà bởi vì ông là người ghét sự giả dối, sẵn sàng phơi bày sự trần trụi để tôn trọng sự thật. Nhiều lúc, tuy thể hiện bản năng đến mức thô thiển nhưng lại bộc lộ tính cương quyết chinh phục không ngừng những đỉnh cao mới của ông, trong học thuật cũng vậy và đối với cả những người đàn bà đi qua cuộc đời. Ông kể về việc lén lút qua đêm tại nhà bạn gái khi mẹ và em ngủ say, cặp bồ cặp bịch khi vợ vắng nhà,… nhẹ tênh, như chưa từng có người phụ nữ nào trong đời ông đáng để ông trân trọng. Có lẽ, chừng mực nào đó, ông thích sự huy hoàng rực rỡ của ái tình, như pháo hoa chóng tàn, đi qua khoảnh khắc chinh phục đắm say chỉ còn lại nỗi xót xa cho những phận người lỡ vương vấn tình ông, cuối cùng tự hại mình, hại người.


Cha ông là một kẻ đào hoa phụ bạc, ông cũng thế, và ông lý giải đó là “ảnh hưởng sinh học”. Mình chợt nhớ đến một câu chuyện kể. Nhà kia có 2 anh em, cha họ là kẻ nát rượu. Lớn lên, người anh là một hũ mèm, như là phiên bản lặp lại của người cha. Người em thì hoàn toàn không uống rượu bia, thậm chí còn là tình nguyện viên giúp đỡ người khác cai nghiện rượu. Khi được hỏi: Vì sao anh trở thành người như bây giờ, cả người anh và người em đều có một câu trả lời: Vì tôi có một người cha như thế!


3. Sách là thứ đã thay đổi cuộc đời ông. Nhà 10 anh em, nghèo khó, chỉ riêng mình ông theo đuổi được con đường học vấn và thành công. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo, ý muốn hơn người, tinh thần tự học, việc chịu khổ không than của ông thật đáng quý. Ông chơi với một người bạn là khuôn mẫu của chuẩn mực, ông đọc hết tủ sách quý nhà bạn rồi đọc hết cả tiệm sách bên nhà. Ông mua lại sách của thầy cô dù chẳng giàu có, “chạy đi kiếm tiền vì quá mê”. Ông yêu quý sách, đọc sách, “mỗi lần đọc sách là mỗi lần bớt đi thói hung hăn của tôi ngày xưa”, để sách trở thành thú vui, thành một phần cuộc đời mình. Sách làm ông giải thoát khỏi hiện thực, biết mơ ước đến những điều tốt đẹp và làm nảy nở trong lòng ông khát khao vươn đến thế giới ngoài kia. “Sách trở thành nơi chốn trú ẩn, bảo vệ tôi khỏi sự tấn công thô bạo của cuộc sống.” Mình rất đồng ý với quan điểm đọc sách của ông: “Bạn phải tìm kiếm điều gì đó rất lâu trong đầu thì sẽ đến lúc bạn gặp đúng quyển sách cần đọc”. Không có quyển sách nào dành cho tất cả mọi người, cũng không có quyển sách nào tuyệt đối hay. Sách vở, cũng như con người, thích hay không thích, hay hay không hay, đơn thuần là tùy duyên, có hợp với chình mình hay không mà thôi. 


4. Khi theo dõi quá trình học hành của ông, có nhiều ý nghĩa về giáo dục. Như câu chuyện thầy diễn tả động tác nửa nằm nửa ngồi, khi giải thích mà mọi người không hiểu thì thầy lên bàn biểu diễn luôn. Mới hôm trước thầy Trương Nguyện Thành mặc quần đùi giảng bài mà truyền thông ầm ĩ, một không gian khác, từ thời đại xưa khác, đã là chuyện bình thường. Chúng ta đã lạc hậu và trôi quá xa vì định kiến, thật mệt mỏi. Thay vì tập trung vào chất lượng, nhiều người chỉ mải miết xem trọng vẻ bề ngoài hình thức. 


Như việc ông bán tháo sách giáo trình, cân ký bán ve chai lấy tiền đi nhậu mà ông học vẫn giỏi vì “tôi dùng sách khác để học vì tôi biết các thầy cô lấy tài liệu ở đâu ra”, học trò như vậy, thật ghê gớm nhưng thật đáng giá! 


Như việc ông tranh cãi với cô giáo “một người thầy phải chấp nhận sự phản biện của sinh viên trước đã, chứ không phải kiện lên ban giám hiệu”, quá chuẩn luôn!


Như việc ông ngày mai bảo vệ mà tối nay say khướt, bài không thèm làm.

Như việc ông cùng bạn trốn đi xem thoát y khi quá cảnh tại Thái Lan trên đường sang Úc.

Chả đứng đắn gì, hẳn là một cậu sinh viên phiền toái, phá vỡ quy tắc, nhưng cuộc đời ta chỉ nhớ lại những điều nổi loạn đầy hạnh phúc đó một cách tự hào mà thôi, chứ không phải là buổi thuyết trình điểm 10.


Việc tự học của ông rất đáng khâm phục, dù ông kiêu hãnh không tả chi tiết, nhưng con đường học thuật chông gai mà ông nỗ lực đi đến bước này tuyệt đối không dễ dàng. Trong học thuật không có con đường tắt nào cả, quá trình nhận thức phải tuần tự bước. Việc trình bày một cách lớp lang các quan điểm học thuật, sự tự tin về tổng quan và ma trận học thuật, dẫn chứng về tài liệu chuyên ngành, việc am hiểu nhiều ngôn ngữ ở mức độ cao, chỉ rõ được quá trình nhận thức có thể đi bằng cách nào, điểm xuất phát ở đâu, tác giả nào nên đọc, cần những phẩm chất nào để học Triết học, sự so sánh các luận điểm,… quá kinh khủng. Nếu không phải là một trong những người dẫn đầu ngành, không thể nào có thể vẽ ra bức tranh tổng quát như vậy. 


5. Con người ông là con người của hiện thực. Ông không làm chuyện gì hoa mỹ, trong cuộc sống và trong học thuật, điểm xuất phát và là sợi dây xuyên suốt đều nằm sát mặt đất, bén rễ đâm chồi vào từng góc ngách đời sống. Thay vì tô vẽ bằng những tuyên bố mỹ miều hay hùng hồn, ông dấn thân và lăn lộn (dấn sâu vào cả đàn bà để hiểu ái tình nữa) để hiểu cuộc đời này.
“Triết học không phải là tri thức. Nó là phương tiện giúp chúng ta chất vấn đời sống, đặt lại mọi vấn đề từ nền tảng, không chấp nhận những ý kiến, phán đoán có sẵn, những chân lý đóng hộp”. Hoài nghi, ắt hẳn là một phẩm chất cơ bản của người làm khoa học. Truy đuổi đến tận cùng vấn đề, không chỉ làm cho con đường học thuật của ông thăng hoa mà còn làm cho cuộc sống cá nhân của ông, dù gây tranh cãi, nhưng đầy rực rỡ. Cuộc đời này chỉ có một lần để sống, và chàng “hoàng tử Hamlet” của chúng ta (như ông tự nhận khi phản bác cô giáo tại trường Canberra), với câu hỏi “To be or not to be, that is the question” đã có sẵn câu trả lời cho chính mình.

Vũ Thị Ngọc Bích (Đại học Thủ Dầu Một)