SOCIALLIFE REVIEW

ĐÌNH TÂN LÂN KIẾN TRÚC VÀ MỸ THUẬT

Đã có khá nhiều sách viết về đình làng Nam Bộ, nhưng đến nay Nguyễn Viết Vinh, một tác giả trẻ vừa trình làng cuốn sách được khảo cứu dưới góc độ vật thể: Đình Tân Lân kiến trúc & mỹ thuật (Từ góc nhìn giao lưu văn hóa Việt – Hoa) (Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2017, 166 trang).

Sau khi trình bày khái quát về vùng đất Đồng Nai, lịch sử phát triển của cộng đồng người Việt và người Hoa, cùng những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội của người Hoa ở mảnh đất này, tác giả đã khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của đình Tân Lân, một ngôi đình cổ kính (xây năm 1820) và lớn nhất ở đất Đồng Nai.

Hình ảnh: Những bức tượng với những sắc thái khác nhau của từng nhân vật

Tác giả cuốn sách xem xét kiến trúc đình Tân Lân qua các dạng thức kiến trúc mái, kiến trúc mặt bằng, vì kèo, cột…Đình quay về hướng Tây Nam, nhìn ra sông Sài Gòn, tận dụng yếu tố “minh đường thủy tụ” để tạo vượng khí. Kiến trúc đình theo lối chữ “Tam”, 3 dãy: tiền đình, chính điện, hậu điện, cùng với đó là kết cấu “ba gian, hai chái”. Ngũ Hành cổ miếu và Thánh Thạch cổ miếu nằm hai bên đình là dạng cấu trúc quen thuộc trong các ngôi chùa Việt. Tiền điện sử dụng khung sườn theo kiểu vì kèo chồng rường giá chiêng (giả thủ) – kiểu kiến trúc truyền thống Việt. Kiểu vì kèo xuyên trính hiện diện ở chính điện và hậu điện của đình, khác với kiểu thức đấu củng trong các miếu Hoa. Các cột trong đình đều sơn đỏ, màu đặc trưng trong các đền miếu, hội quán của người Hoa.

Tượng Ông Nhật – Bà Nguyệt được trang trí trên bờ nóc của miếu Hoa được thể hiện ở ngôi đình này. Hoặc mái đình lợp bằng ngói ống theo kiểu thức miếu Hoa với dạng “trùng thềm điệp ốc” và mái hình thuyền. Đặc biệt, các quần thể tiểu tượng gốm ghi tên khu vực sản xuất và tên lò bằng chữ Nôm chứ không phải chữ Hán.

Những biểu hiện mỹ thuật trang trí ở đình Tân Lân cũng được tác giả chỉ rõ, đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa điêu khắc thời Nguyễn và điêu khắc đặc trưng của vùng Hoa Nam (Trung Quốc) qua các motif “tứ quý”, “tứ linh”, “lưỡng long chầu nhật”, “long-phụng”, “long ẩn vân”, “quy-hạc”, “trúc-mai”, “tùng-lộc” (Việt); “Lục quốc”, “Bát tiên quá hải”, “Nhật Nguyệt” (Hoa).

Một số hoành phi sử dụng chữ Nôm. Các câu đối trong đình ghi bằng chữ Hán, nhưng hai bàn thờ Tiền thứ Trung HoaTiền thứ Việt Nam ở hậu điện là bằng chứng cho sự giao lưu văn hóa Hoa – Việt ở đình Tân Lân.

Tuy vốn là đền thờ Trần Thượng Xuyên, một đô đốc nhà Minh (Trung Hoa), nhưng bàn thờ Thần ở chính điện lại mang đậm kiến trúc truyền thống Việt Nam, thể hiện xu hướng “Việt hóa”.

Hình ảnh: Tượng thờ ông Trần Thượng Xuyên

Chọn một trường hợp nghiên cứu điển hình, ở đây là một ngôi đình tiêu biểu cho sự giao lưu văn hóa Việt – Hoa, tác giả đã thể hiện khá thành công diện mạo của ngôi đình qua các yếu tố vật thể thông qua quá trình chuyển hóa từ “Tân Lân thành cổ miếu” đến “đình Tân Lân”. Và sẽ là hoàn thiện hơn, nếu tác giả đặt nó trong bối cảnh đình làng Nam Bộ và có những so sánh với miếu Hoa ở Nam Bộ.

Tác giả: Nguyễn Thanh Lợi

Nguồn ảnh: https://bosusu.blogspot.com/2013/08/inh-tan-lan.html