{Phần 2} Sự phát triển thịnh vượng của Cù lao Phố

Sau khi đến định cư khai khẩn trên vùng đất Bàn Lân (Bến Gỗ), nhóm người Hoa do Tổng binh Trần Thượng Xuyên đứng đầu đã nhận thấy Cù lao Phố có những điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán nên họ đã di chuyển về đây.

Cù lao Phố là một bãi phù sa nằm giữa sông Đồng Nai, ”dài dặm dư, rộng 2/3 dặm, cách phía đông trấn độ 3 dặm”. Phía nam của cù lao là sông Phước Long. Ở giữa dòng sông cách trên 4 dặm 1/2 thiên về phía bắc ”có đá cự tích, còn gọi là thạch than (thác đá hay đá hàn)” (4). Đây là mô đá gồ ghề lớn nhỏ chồng chất, có vực sâu, thế nước chảy xiết và sóng vỗ ào ạt. Phía bắc của cù lao là sông Cát, còn gọi là Sa Hà hay Rạch Cát hoặc Hậu Giang cách phía đông trấn Biên Hòa 3 dặm 1/2 và chảy quanh Cù lao Phố.

Cù lao Phố nay là xã Hiệp Hòa, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bắc giáp phường Thống Nhất, nam giáp xã Tân Vạn, đông giáp phường An Bình và Tam Hiệp, tây giáp phường Quyết Thắng và xã Bửu Hòa, nối liền nội ô thành phố Biên Hòa bằng hai cầu Gành và Rạch Cát (trên quốc lộ 1) cách thành phố Biên Hòa về phía tây nam 1 km, cách TP.HCM về phía đông bắc 31 km.

Cù lao Phố có hai rạch nhỏ là rạch Ông An và rạch Lò Gốm, đưa nước sông Đồng Nai chảy vào tận những cánh đồng xa tít nằm sâu trong lòng cù lao, rất thuận lợi cho trồng trọt Cù lao Phố có tên là Bãi Đại Phố, Giãn Phố và Cù Châu. ”Cù Châu là nơi địa thế khất khúc chạy tới như hình con hoa cù (rồng con có sừng) uốn khúc giỡn nước nên nhân đó gọi tên” (5). Cù lao Phố có ba thôn: Nhất Hòa thôn, Nhị Hòa thôn, Tam Hòa thôn với 12 ấp: Hưng Phú, Tân Giám, Bình Tự, Bình Xương, Tân Mỹ, Bình Kính, Tân Hưng, Thành Đức, Bình Hòa, Bình Quang, Long Thới, Hòa Quới (6).

Bằng tư duy thương nghiệp, tư duy hàng hóa, tiền tệ, chứ không phải bằng tư duy nông nghiệp, chỉ biết chăm bẵm vào việc khẩn hoang, trồng tỉa, nhóm Trần Thượng Xuyên đã sớm phát hiện ra một ưu thế của Cù lao Phố, có vị trí quan trọng trong kinh doanh với đường thủy, đường bộ nối liền miền Trung, đường bộ lên Cao Miên và đường thủy xuống Gia Định. Tuy nằm không gần biển, nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, có thể tiếp tục ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, xuống tận phía Nam, ra cửa Cần Giờ và có thể sang tận Cao Miên. Phần lớn trong số họ đã chuyển cư từ Bàn Lân về Cù lao Phố, phát hoang, dựng nhà, lập bến, mở đường, xây dựng phố chợ. Gỗ rừng sẵn và tốt không chỉ cung cấp cho việc đóng thuyền mà còn là một nguồn hàng xuất khẩu quan trọng. Sẵn vốn liếng tiền bạc, với kinh nghiệm đã được tích lũy, họ liên lạc, móc nối lại các đường dây, khách hàng buôn bán cũ, họ đã khai thác các nguồn hàng lâm thổ sản dồi dào và phong phú trong vùng lúc bấy giờ (gỗ quý, trầm hương, ngà voi, sừng tê, xương động vật, lông chim, da thú, nhựa sơn, dược liệu, tôm khô, cá khô cùng những sản phẩm nông nghiệp khác…). Chỉ trong vòng vài ba thập niên, đến đầu thế kỷ XVIII, những di dân người Hoa đã biến Cù lao Phố thành một thương cảng xuất nhập khẩu lớn thu hút thuyền buôn Nhật Bản, Trung Hoa và các nước phương Tây đến buôn bán và trao đổi hàng hóa. Quang cảnh của Cù lao Phố (Nông Nại Đại Phố) hiện ra dưới ngòi bút của Trịnh Hoài Đức khá khang trang, sầm uất: ”Ở đầu phía Tây bãi là Đại Phố. Khi mới khai thác, Trần Thượng Xuyên tướng quân chiêu tập lái buôn người Trung Quốc lập ra phố xá, nhà ngói, tường vôi, lầu cao chót vót, quán mấy tầng rực rỡ bên sông dưới ánh mặt trời, liên tục năm dặm mở vạch ba đường phố. Phố lớn lát đường đá trắng, phố ngang lát đường đá ong, phố nhỏ lát đường đá xanh, bằng phẳng như đá mài. Khách buôn tụ họp đông, thuyền biển, thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhỏ sát nhau, là một nơi đô hội. Nhà buôn to giàu tập trung ở đây nhiều nhất” (7). Việc buôn bán ở nơi thương cảng này được tổ chức khá bài bản, khéo léo và mang tính chất kinh doanh lớn. Điều này được thể hiện rõ nhất trong việc giao dịch buôn bán với thương nhân nước ngoài. Cũng theo Gia Định thành thông chí thì ”Phía Bắc ghềnh có vực sâu làm nơi trú ẩn cho tàu thuyền các nước. Tàu buôn đến đây, hạ neo xong là lên bờ thuê phố ở, rồi đến nhà chủ mua hàng, lấy đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và khuân cất lên, thương lượng giá cả, chủ mua hàng định giá và mua bao tất cả hàng hóa tốt xấu, không bỏ sót lại thứ gì. Đến ngày trương buồm trở về gọi là ”hồi Đường”, chủ thuyền có yêu cầu mua giúp vật gì thì người chủ hiệu buôn ấy cũng chiều ý ước đơn mà mua giùm và chở đến trước kỳ giao hẹn, hai bên chủ và khách chiếu theo hóa đơn thanh toán rồi cùng nhau đờn ca vui chơi, đã có nước ngọt tắm rửa sạch sẽ, lại không lo hà trùng ăn lủng ván thuyền, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi”(8).

Hàng hóa các chủ thuyền thường mua là những sản vật được sản xuất ở Đồng Nai như gạo, cá khô, sừng tê, ngà voi, gạc nai, các loại dược thảo ở phía Nam. Còn sản vật các chủ hàng buôn bán thường nhận mua là những sản phẩm tiêu dùng gồm tơ lụa, vải bố, dược phẩm cho đến những đồ xa xỉ, trang trí như gạch ngói, sứ men, đá xây cột chùa, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc… Hàng năm cứ đến tháng một, tháng chạp, người ta thường xay giã lúa thành gạo đem bán lấy tiền tiêu dùng vào những ngày lễ Tết. Còn từ cuối tháng giêng trở đi, họ không còn thời giờ rảnh rỗi để xay giã lúa thóc. Những lúc bình thường người ta chuyên chở gạo thóc ra bán tại thành Phú Xuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu, trừu, đoạn của người Tàu đem về may mặc nên áo quần họ toàn những hàng hóa màu tươi tốt đẹp đẽ, ít khi họ dùng những áo quần bằng vải trắng thường” (9).

Nguồn xuất khẩu chính ở Cù lao Phố là lúa gạo. Lúa gạo ở Đồng Nai nhiều nên rất rẻ ”Còn đồng tiền xưa thì một tiền (60 đồng) đong được 16 đấu thóc. Cứ lường theo bát được gạt bằng miệng mà dân gian địa phương thường dùng thì ba bát ấy ngang với 30 bát của Nhà nước. Một quan tiền đong được 300 bát đồng của Nhà nước (tức bát định chuẩn). Giá rẻ như vậy, các nơi khác chưa từng có” (10).

Kế đến là nguồn gỗ quý dùng để làm tàu thuyền vì giao thông đường thủy là chủ yếu, Phủ Gia Định sản xuất nhiều gỗ tốt tra xét sổ sách của cai bạ Nguyễn Khoa Thuyên kê biên hai xứ là nguồn Đồng Môn cùng thủ Quang Hóa thuộc huyện Phước Long có các thứ gỗ sao, trắc, dầu, giáng hương, gụ” (11)

Những người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào Biên Hòa, ngoài những binh lính vẫn giữ nguyên đội ngũ ”Long Môn” dưới quyền chỉ huy của ông, còn có hàng loạt các quý tộc phong kiến và thương nhân giàu có cùng gia quyến quê ở Quảng Đông, Hải Nam, Phước Kiến, Triều Châu, Hẹ. Ngoài một số sống tập trung ở Bàn Lân (Bến Gỗ), Cù lao Phố, còn có những người sống rải rác trong phạm vi vùng Đồng Nai với tính cách là những đại lý thu mua nguyên vật liệu, hàng hóa tại chỗ cung cấp về Cù lao Phố như ở Tân Bản (lúa gạo), Mỹ Khánh, Bình Long (hàng vàng bạc), Chợ Đồn (nằm trong làng Bình Long xuất lu, hũ, cát, đá ong), Tân Mai, Vĩnh Thanh, Bình Trước, Bình Phước (lúa gạo), Đổng Bản, Thủ Đồn Xứ (gỗ quý, thú rừng), Bình Sơn (đá rửa dùng tô nhà), Phú Hội (xuất trà), An Lợi (sầu riêng), Long Tân (chuối), PhướcAn (cá Buôi, sò huyết), Phước Khánh (lúa gạo thơm), Tam An (tôm càng), Hội Bài (cá), Long Phước (chuối, xoài). Ở Nông Nại Đại Phố, có nhiều nhà buôn bán lớn, trong đó người mà trong nước đều biết danh là Lâm Tổ Quan. Theo lời Trịnh Hoài Đức thuật lại thì Lâm Tổ Quan tên Tư là Nhái (theo cách gọi của người Trung Quốc), người huyện Tấn Giang, phủ Triều Châu, tỉnh Phúc Kiến, gặp túc Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) ra lệnh thay đổi cách phục sức, Lâm Tổ Quan cho rằng kiểu áo mão đương cải cách ấy rất vinh diệu, bèn dâng vàng xin làm nội viên thị hàn, được Phúc Khoát khen là nhà phú hào (12).

Đó là bằng chứng cho thấy ở đây, di dân người Hoa đã rất có uy thế về tài chính và kinh tế. Cùng với sự phát đạt của thương nghiệp, Cù lao Phố cũng là nơi tập trung nhiều nghề thủ công như dệt chiếu, dệt hàng tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường từ mía, làm bột, làm đồ gỗ gia dụng và chạm khắc gỗ đóng thuyền, làm pháo thăng thiên, nhuộm… Trong số các nghề nói trên, có những nghề truyền thống do những lưu dân Việt mang theo từ nơi quê cũ, nhưng cũng có những nghề do thợ thủ công Trung Quốc du nhập vào như nghề gốm, đúc đồng, dệt lụa, làm đồ mỹ nghệ, vàng bạc, pháo thăng thiên. Các nghề này đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong dân gian như những địa danh ”chợ Chiếu, xóm Cửi, xóm Lò Đúc, rạch Lò Gốm…”. Điều này nói lên sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Cù lao Phố. Chính những yếu tố về dân cư (cuối thế kỷ XVll, số lượng dân đến khai phá, định cư đã lên đến 4 vạn hộ), về sự dồi dào sản vật và nguyên liệu của vùng Đồng Nai là những yếu tố quan trọng cho sự hình thành trung tâm thương mại – thương cảng Cù lao Phố đầu thế kỷ XVIII .

Người Hoa không chỉ tập trung ở nơi thương cảng này, mà còn tạo ra một hệ thống đại lý thu mua và phân phối hàng hóa ăn sâu về các bến sông, bến chợ từ đầu nguồn cho đến nơi cửa biển. Tuy nhiên, sự thịnh vượng của thương cảng Cù lao Phố chỉ kéo dài đến nửa thế kỷ XVIII thì bắt đầu đi xuống. Bởi khi Cù lao Phố đã trở thành ”xứ đô hội”của vùng đất mới thì tự nó cũng trở thành nơi diễn ra những cuộc tranh chấp về quyền lực chính trị. Năm 1747, một nhóm khách thi Phước Kiến do Lý Văn Quang cầm đầu và tự xưng là ”Giãn Phố đại vương” tập trung bè đảng, toan đánh úp dinh Trấn Biên. Cuộc bạo loạn này bị dập tắt nhưng đã gây nhiều thiệt hại đáng kể cho Cù lao Phố. Mặt khác những nguồn tài nguyên nông lâm thổ sản của địa phương ngày một cạn kiệt, trong khi công cuộc khai hoang miệt đồng bằng sông Cửu Long đang mở rộng và có sức hút mạnh các lưu dân về hướng đất ấy thì Cù lao Phố không còn và không thể đóng vai trò trung tâm nữa, mà phải chuyển vị trí về Bến Nghé – Sài Gòn, nơi có những ưu thế và thuận lợi hơn về nhiều mặt. Tiếp đến, trận chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh xảy ra trong vùng này, đặc biệt biến cố năm 1776 đã tàn phá Cù lao Phố, dù sau này một số dân có về lại nhưng xét ra chưa được một phần trăm thời trước (13). Như vậy, từ buổi đầu hình thành và phát triển cho đến khi bị tàn phá, trung tâm thương mại Cù lao Phố tồn tại 97 năm (1679-1776).

Phụ lục:

(4) (5) (6) Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập Trung, tr. 20-21, dẫn lại Địa chí Đồng Nai, (tập3 – Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 108 – 109.

(7) Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, 1998, tr. 194.

(8) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, 1998, tr.24

(9) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Q.VI, tr.441, dẫn theo Địa chí Đồng Nai, (tập 3 – Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.

(10) Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. QIIl, tr.223, dẫn theo Địa chí Đồng Nai, (tập 3 – Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.

(11) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Q. VI, tr.375, dẫn theo Địa chí Đồng Nai (tập 3 – Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001, tr. 123.

(12) Trinh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Q. VI, Thành trì chí, tr.28a-b.

(13) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dich, NXB Giáo dục, 1998. Tr. 195.

Tài liệu tham khảo chính:

1. Đại Nam nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt, tập Thượng – Biên Hòa, Gia Định – Nhà Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa. 1973.

2. Địa chí Đồng Nai, (tập 3 – Lịch sử), NXB Tổng hợp Đồng Nai, 2001.

3. Huỳnh Lứa, Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, NXB Khoa học Xã hội, 2000.

4. Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, TP.HCM, 1999.

5. Lương Văn Lựu, Biên Hòa sử lược toàn biên, quyển thứ II – Biên Hùng oái dũng, xuất bản 1973.

6. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí, 1967.

7. Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Nam bộ và Nam Trung bộ – Những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII-XIX, Kỷ Yếu hội thảo, tháng 5-2002.

8. Vũ Huy Chân, Lòng quê: nhân vật – thắng cảnh – di tích lịch sử, 1973.

Tiến sĩ Phạm Phú Lữ

(Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ)

Link nguồn: http://namkyluctinh.org/a-lichsu/tranthuongxuyen/tranthuongxuyen[3].htm

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie