Phạm vi của nhân học hiện sinh

Phạm vi của nhân học hiện sinh là chương đầu tiên trong cuốn sách Những cõi sống: Những tiểu luận trong nhân học hiện sinh của Michael Jackson xuất bản năm 2013 tại trường đại học Chicago. Tiểu luận này được đặt ở vị trí mở đầu trong cuốn sách và có giá trị như là một tuyên ngôn của Jackson nhằm xác nhận những giá trị và tư tưởng mà ông đã theo đuổi trong suốt sự nghiệp nhân học của mình. Với Jackson, nhân học hiện sinh là một lĩnh vực mới mẻ và mục tiêu của nó là cố gắng thoát ra khỏi những hệ hình truyền thống của nhân học vốn đã đứng trước những ngõ cụt. Do vậy, nhân học hiện sinh đòi hỏi nhà nhân học phải chú ý đến những cõi sống (lifeworlds) trên thực tế của con người vốn chứa đựng những tình huống nguy hiểm, bất trắc và không thể dự báo được. Để làm được điều này, theo Jackson, cơ sở của nhân học hiện sinh vay mượn từ hai nguồn chính là những triết gia hiện sinh như Martin Heidegger, Hannah Arendt, Jean Paul Sartre hay Merleau – Ponty và những triết gia dụng hành như John Dewey và William James. Những nhà tư tưởng trên đã hình thành nên một nền tảng tư tưởng triết học mới gọi là triết học về cuộc sống (lebensphilosophie). Sau đây, chúng ta cùng dõi theo năm chủ đề chính của triết học về cuộc sống mà Jackson đã tóm tắt lại trong tiểu luận này:

(1) Đặc trưng quan hệ của sự tồn tại con người mà Heidegger gọi là tồn tại trong thế giới (Dasein).Thế giới riêng của chúng ta gắn bó chặt chẽ với thế giới của những người khác và với môi trường vật lý mà chúng ta chắc chắn cũng là một phần. Husserl đã sử dụng thuật ngữ liên – chủ thể (intersubjectivity) để diễn tả ý nghĩa mà chúng ta xét như là những chủ thể cá nhân, sống có chủ đích hoặc trong tình trạng căng thẳng với những người khác cũng như với một thế giới được vây quanh bởi những kỹ thuật, những truyền thống, những ý kiến và những hoàn cảnh phi nhân. Do đó, chúng ta không cố định hay kết cấu với những bản chất, những số phận hoặc những căn tính bất biến và vững chắc; thay vào đó chúng ta liên tục biến đổi, nhào nặn và thay đổi trong một tiến trình của những mối quan hệ của chúng ta với những người khác và sự đấu tranh của chúng ta dành cho bất kì điều gì có thể giúp chúng ta duy trì và cung cấp sự thực hiện trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thuật ngữ liên – chủ thể còn giúp chúng ta thoát khỏi những khái niệm về cá thể, bản thân hay chủ thể xét như một đặc trưng cố định và vĩnh cửu, và thuật ngữ này mời gọi chúng ta khám phá những thương thảo tinh vi và những sự thay đổi của kinh nghiệm chủ thể khi chúng ta tương tác với người khác.

(2) Chủ đề quan trọng thứ hai của nhân học hiện sinh liên quan tới sự mơ hồ của thuật ngữ “chủ thể”, bởi vì khái niệm về một chủ thể cá nhân dẫn đến một khái niệm suy lý trừu tượng hơn về chủ thể như những cách diễn đạt sau: “Ngành học (my subject) của tôi là nhân học” hay “Tôi là một người New Zealand”. Bất kỳ xã hội vi mô nào (vì dụ một vòng tròn của những người bạn, gia đình, một cộng đồng nhỏ) có thể được hiểu trong mối quan hệ với xã hội vĩ mô toàn cầu, địa lý, lịch sử, ngôn ngữ hay văn hóa mà qua đó nó được gắn vào. Nhưng không có những ý nghĩa cá nhân hay chính trị, cá biệt hay trừu tượng về “chủ thể” có thể được mặc nhiên ở vị trí ưu tiên. Chúng nảy sinh cùng với nhau và mỗi cái là điều kiện khả thể của cái khác.

(3) Nhân tính của chúng ta cùng lúc được chia sẻ và đặc thù. Ngịch lý của những phương cách đa dạng mà chúng ta vừa chia sẻ với người khác đồng thời phân biệt chúng ta khỏi họ. Mặc dù “sự biểu lộ ‘cá nhân cá biệt’ đòi hỏi khái niệm loài đơn giản để trở nên có ý nghĩa”, nhưng một cá nhân cá biệt không thể “biến mất” vào trong phạm trù suy lý mà không có bạo lực. Căn tính bao hàm cả idem (tồn tại đồng nhất hoặc giống nhau) và ipse (tồn tại tự thân trái ngược với cái khác). Theo đó, tồn tại con người tìm kiếm sự cá tính hóa và tự trị cũng tương đương như tìm kiếm liên kết và kết nối với những người khác.

(4) Chủ đề thứ tư mang ý nghĩa là bất kỳ đời sống nào của con người đều không thể bị quy giản tới ngôn ngữ dựa trên các khái niệm mà chúng ta biểu hiện nó như cái khả niệm hoặc khả dụng. Nhằm chống lại khuynh hướng triết học vị Âu châu, tồn tại và tư duy không mang lấy một vẻ đồng nhất. Như Dewey đã trình bày “Cái thực sự ‘nằm trong’ kinh nghiệm lúc nào cũng mở rộng hơn so với cái đã được biết”. Phép biện chứng phủ định của Adorno phản ánh một ý kiến tương tự: “Biểu tượng trong một ô tận cùng của tư duy thì không giống như tư duy”. Nếu tôi ưa thích thuật ngữ “cõi sống” hơn “văn hóa” hay “xã hội”, bởi vì tôi muốn nắm bắt ý nghĩa của một trường xã hội như là một trường sức mạnh (kraftfeld), một sự tụ hội của những ý tưởng và đam mê, những chuẩn mực đạo đức và những nan đề luân lý, sự chân thành và đáng tin cậy cũng như sự việc chưa từng có, một trường mang sức sống và sinh khí thông qua sự tranh đấu. Hơn thế nữa, khái niệm của Adorno về sự không đồng nhất giúp giải phóng nhân học một trong những ngụy biện dai dẳng nhất là xu hướng tiền giả định một mối quan hệ đồng đẳng (isomorphic relation) giữa ngôn từ và thế giới hoặc giữa trải nghiệm và tri thức. Ngay cả với những ý chí đỉnh nhất của thế giới, tồn tại con người cũng hiếm khi nói rằng tâm trí hay lời nói của họ chính xác với những gì nằm trong trái tim của họ. Đúng hơn, chúng ta biểu lộ cái nằm trong những mối quan tâm nhất của chúng ta, cả cá nhân và liên cá nhân.

(5) Sự tồn tại của con người bao hàm một mối quan hệ năng động giữa cách chúng ta được cấu tạo nên và cách chúng ta tự cấu tạo nên chính mình giữa cái đã có sẵn ở đó trong thế giới khi chúng ta sinh ra và cái xuất hiện trong quá trình sống của chúng ta trong thế giới đó. Cả nhân học và tâm lý học đều là những ngành khoa học về những mối quan hệ con người – nội tâm lý (intrapsychic) cũng như liên chủ thể – đôi khi làm xói mòn những yêu sách của những nhà thực chứng đã tạo nên chúng, bởi vì những ý nghĩa và những trải nghiệm xuất hiện trong quá trình của bất kỳ tương tác, đối thoại, hay lịch sử đời sống con người vốn ở phía sau những dữ liệu rắc rối. Dù cho chúng ta có thể nhận biết những dữ liệu chẳng hạn như những con người cá nhân, những nhóm định danh, những sự kiện đặc biệt và công nhận chúng vững chắc qua thời gian nhưng nhận thức của chúng ta về chúng luôn luôn phản ánh mối quan hệ biến đổi của chúng ta với chúng. Werner Heisenberg đã gọi điều này là nguyên lý bất định (uncertainly principle). Cái chúng ta biết về thế giới phụ thuộc vào cách chúng ta tương tác với nó. Những phương pháp và tính cách của chúng ta thay đổi và cấu tạo một phần bản tính của cái mà chúng ta quan sát. Bởi vì, cái xảy ra trong không gian quá độ giữa những con người thì luôn luôn, trong một vài ý nghĩa, không thể dự báo và mới mẻ, ta không bao giờ có thể quy giản ý nghĩa của một đời sống con người đến những điều kiện khả thể của nó hoặc đến những lý giải hồi cố về một con người hoặc một nhóm người có thể diễn tả như câu chuyện, phân tích hoặc bình luận. Mặc dù chúng ta có thể nhận diện được những nhân tố xác định trong lịch sử của chúng ta, trong những gien của chúng ta, trong giai cấp của chúng ta, hay trong văn hóa của chúng ta vốn quyết định những giới hạn của tiềm thể con người của chúng ta, nhưng luôn luôn có những bước ngoặt, những cuộc gặp gỡ bất ngờ, những nhân tố biểu sinh, và những sự kiện định mệnh tác động mạnh mẽ lên những phương cách mà qua đó những khả thể tiềm tàng được hay không được thực hiện.

Dựa vào những suy xét trên, trọng tâm của nhân học hiện sinh là nghịch lý của cái đa thể và sự mơ hồ của đời sống liên chủ thể. Mặc dù chúng ta vừa hiện hữu như những tồn tại cá biệt vừa như những người tham dự trong những trường mở rộng của tồn tại bao quanh bởi người khác, những sự vật hữu hình, những sự trừu tượng, nhưng những mối quan hệ của chúng ta với chính mình và với người khác thường bất định, không ngừng biến đổi và tùy thuộc vào sự thương thảo vô tận. Do đó, đòi hỏi sự giảm xuống những khác biệt của chúng ta và cổ vũ sự bình đẳng phổ quát là những lý tưởng không tưởng. Như Adorno đã nhận thấy, sự thực hiện của cái phổ quát như một trạng thái vĩnh cửu và thống nhất chỉ có thể được tựu thành thông qua sự bạo hành để giải quyết những cái khác biệt. Trái lại, một xã hội giải phóng là một xã hội đạt được sự cùng tồn tại trong sự đa dạng.

Quang Huy lược dịch

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie