Nghiên cứu

XÃ HỘI HỌC VỀ MỘT XÃ Ở VIỆT NAM: THAM GIA XÃ HỘI, CÁC MÔ HÌNH VĂN HÓA, GIA ĐÌNH, TÔN GIÁO Ở XÃ HẢI VÂN

Nxb. Khoa Học Xã hội, 2001, Hồ Hải Thụy dịch

Nguyên tác tiếng Pháp: Sociologie d'une commune vietnamienne. Participation sociale, modèles culturels, famille, religion, dans la commune de Hai Van (1981)

Bản tiếng Anh: Hai Van: Life in a Vietnamese Commune (1984)

Vào năm 1978, hai nhà xã hội học Bỉ là F. Houtart và G. Lemercinier chính thức tiến hành cuộc nghiên cứu xã hội học được xem là đầu tiên tại Miền Bắc sau năm 1975. Nếu tính từ mốc bắt đầu cuộc nghiên cứu thì đến nay, công trình này đã tròn 40 năm, mặc dù bản tiếng Việt chưa đến 20 năm. Bài viết này là một tóm tắt công trình đầu tiên và đáng được học hỏi về mặt phương pháp xã hội học này.

I. Tóm tắt tiểu sử tác giả

François Houtart (1925-2017) là linh mục và là nhà xã hội học Mác-xít nổi tiếng người Bỉ với trên 100 công trình đã được xuất bản. Thuở ban đầu, với ước muốn trở thành linh mục, ông đã theo học Triết học và Thần học tại Đại chủng viện Malines/Mechelen và thụ phong linh mục vào năm 1949. Sau đó, với sự cho phép của Đức Giám phục giáo phận, ông theo học và lấy bằng Cao học về Chính trị học và Khoa học xã hội tại trường Đại học Công giáo Leuven vào năm 1952. Vào năm 1954, nhờ có học bổng Fulbright, ông đã theo học khóa học về Xã hội học Đô thị tại trường Đại học Chicago lừng danh của Mỹ. Năm 1974, ông bảo vệ luận án tiến sĩ Xã hội học có nhan đề “Religions and Ideology in Sri Lanka” tại trường Đại học Công giáo Louvain (Bỉ), nơi ông là giáo sư từ năm 1958 đến 1990. Công trình này đã trở thành nền tảng cho việc nghiên cứu Xã hội học về Phật giáo và Ý thức hệ tại Sri Lanka.

Năm 1956, ông thành lập Trung tâm nghiên cứu xã hội – Tôn giáo (Center for Socio-Religious Research) và cùng năm đó, ông là Tổng thư ký của Hội nghị quốc tế về Xã hội học tôn giáo (International Conference of Sociology of Religion). Năm 1976, ông thành lập Trung tâm ba Châu (CETRI) tại Louvain-la-Neuve (Bỉ). Đây là trung tâm nghiên cứu, xuất bản, lưu trữ và giáo dục về sự phát triển và các mối quan hệ Bắc-Nam cũng như là nơi thể hiện tiếng nói của các nước Phương Nam thông qua tạp chí Alternative Sud do ông sáng lập vào năm 1996. Trong giai đoạn 1960-1999, ông là Tổng biên tập tạp chí Social Compass, tạp chí quốc tế về Xã hội học tôn giáo. Ngoài việc giảng dạy và nghiên cứu, ông còn là người đấu tranh không mệt mỏi cho các nước thuộc Thế giới thứ Ba. Chính vì vậy, ông là đồng sáng lập Diễn đàn xã hội thế giới (World Social Forum) tại Port Alegre vào năm 2009. Đồn thời ông cũng đã đến nhiều nước thuộc Mỹ La tinh, Việt Nam, Ấn Độ, Sri Lanka, Cuba, Philippines… để nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo cho các nhà nghiên cứu trẻ ở những nước này. Ông là người diều dắt thế hệ Xã hội học đầu tiên ở miền Bắc sau năm 1975 và công trình “Hải Vân…”  là bài giảng đầu tiên của ông về nghiên cứu xã hội học. Năm 2009, ông được trao giải thưởng “UNESCO-Madanjeet Singh Prize”, giải thưởng được UNESCO trao hai năm một lần cho những người có công thúc đẩy sự khoa dung và bất bạo động trên thế giới[†].

Geneviève Lemercinier (1922-1996) là nhà xã hội học người Bỉ. Bà lấy bằng Tiến sĩ Xã hội học tại trường Đại học Công giáo Louvain (Bỉ) vào năm 1977 với luận án có nhan đề “Religion et Idéologie au Kerala. Modes de production et fonctions sociales de la religion”.  Bà cũng là một nhà xã hội học Mác-xít và là một chuyên gia về Xã hội học tôn giáo. Có thể nói bà cùng với F. Houtart là một cặp bài trùng trong nghiên cứu bởi cả hai đã cùng nhau công bố rất nhiều công trình nghiên cứu. Chỉ tính riêng trên tạp chí Social Compass, cả hai đã cùng đứng tên chung trong 6 bài báo trong những năm 1970-1980 của thế kỷ trước.

II. Về công trình “Hải Vân…

  1. Thời gian, mục đích, cơ sở lý thuyết và phương pháp

Công trình Hải Vân được bắt đầu tiến hành điều tra trên thực địa vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1979 tại xã Hải Vân thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Đây là một xã thuần thông với 5.200 cư dân, trong đó có 85% dân cư theo đạo Công giáo. Cuộc điều tra xã hội học trên thực địa kéo dài trong 10 ngày với sự tham gia của các cán bộ nghiên cứu trẻ của Ban Xã hội học (nay là Viện Xã hội học) mới được thành lập gần hai năm trước đó[‡]. Dù cuộc điều tra được tiến hành vào năm 1979, những bước chuẩn bị cho cuộc nghiên cứu này đã bắt đầu từ năm 1978 và cuộc nghiên cứu chính thức kết thúc vào năm 1980. Một năm sau đó, công trình này được xuất bản bằng tiếng Pháp và sau bản tiếng Pháp 3 năm là sự ra đời của bản tiếng Anh. Bản dịch tiếng Việt của Hồ Hải Thụy hoàn thành gần như cùng lúc với bản tiếng Anh, nhưng mãi đến 17 năm sau thì mới chính thức được xuất bản bởi những khó khăn về mặt chính trị ở thời kỳ ấy.

Cuộc nghiên cứu này nhằm ba mục đích: tạo cơ hội cho các cán bộ nghiên cứu trẻ của Ban Xã hội học Việt Nam lúc ấy được tiếp xúc với thực địa, làm quen với phương pháp điều tra xã hội học; kiểm chứng lại một số giả thuyết trong lĩnh vực xã hội học nông thôn và cuối cùng, qua cuộc nghiên cứu mang tính chất thăm dò này mà chuẩn bị cho một chương trình rộng lớn hơn nhằm hiểu rõ hơn các cơ chế đang vận động trong cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhất là vào lúc đang chuyển sang nền sản xuất lớn, tức là giai đoạn quá độ (tr. 23).

Về cơ sở lý thuyết, nghiên cứu “Hải Vân…” dựa trên nền xã hội học Mác-xít nhấn mạnh đến nhiệm vụ giải thích hơn là miêu tả thực tại. Hơn nữa, nền xã hội học Mác-xít là nền xã hội học dựa trên giả thuyết trung tâm trong cách làm là giả thuyết của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tức giả thuyết coi cái có trước, cái đứng đầu mọi mối quan hệ nhân quả xã hội đó là việc sản xuất ra các tư liệu sinh tồn, cần thiết để sinh tồn trong bất kỳ tập thể con người nào (tr.28).

Về phương pháp nghiên cứu, các tác giả của công trình này đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học. Đồng thời các tác giả cũng sử dụng các dữ liệu thứ cấp trong việc so sánh giữa các thời kỳ. Các kỹ thuật thống kê được dùng trong phân tích dữ liệu thuộc các kỹ thuật thống kê nâng cao, cụ thể là kỹ thuật phân tích nhân tố, một kỹ thuật mà ngay cả những nghiên cứu xã hội học hiện tại, với sự trợ giúp của các phần mềm phân tích dữ liệu thống kê hiện đại, vẫn chưa được áp dụng nhiều.

  1. Nội dung công trình

Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ gồm tổng cộng 8 chương với hơn 400 trang trình bày gần như tất cả các mặt của xã Hải Vân.

Chương I trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài với nhan đề “Tiến tới một môn xã hội học về sự quá độ xã hội chủ nghĩa”. Ở chương này, các tác giả trình bày về vai trò của xã hội học, trong đó nhấn mạnh đến việc xã hội học phải tìm ra được cái lôgic xã hội thông qua các sự kiện xã hội. Có nghĩa xã hội học không thể chỉ dừng lại ở việc miêu tả mà phải hướng đến việc giải thích theo nguyên tắc của Durkheim là cái xã hội phải được giải thích bằng cái xã hội. Tuy nhiên, không được đi tìm cách giải thích trong cái có thể thấy được cách trực tiếp, tức là dựa vào “kinh nghiệm luận”, mà phải dựa trên một cơ sở lý thuyết. Và vì vậy, cơ sở lý thuyết của công trình này là chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Với cơ sở lý thuyết là chủ nghĩa duy vật lịch sử coi cái có trước, cái đứng đầu của mọi quan hệ nhân quả xã hội là việc sản xuất ra các tư liệu sinh tồn, thế nên, Chương II được dành để nói về “Các giai đoạn tổ chức kinh tế ở Hải Vân: Sự quá độ từ làng truyền thống đến hợp tác xã”, tức bàn về cơ sở hạ tầng kinh tế của xã. Do đó, nội dung chương bàn đến lịch sử của xã, những diễn biến về dân số, sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất (làm chiếu cối giảm, trồng trọt và công nghiệp-thủ công tăng). Kết quả cho thấy có sự chuyển biến trong cơ cấu sản xuất và việc phân bố lực lượng sản xuất tại xã và một điểm rõ nét cho thấy sự quá độ của xã đó là vẫn còn tồn tại phương thức sản xuất manh mún trong bước chuyển lên nền sản xuất lớn.

Sau phần trình bày về cơ sở hạ tầng của xã, Chương III bàn đến“Sự lựa chọn cán bộ, ý kiến về những người lãnh đạo và việc tham gia trong hợp tác xã”. Mục tiêu của chương này bàn về mức độ tham gia của người dân vào việc quản lý hợp tác xã thông qua ba khía cạnh: các tiêu chí bầu cử cán bộ (chủ nhiệm Hợp tác xã và đội trưởng đội sản xuất), sự tham gia bầu cử  cũng như các cuộc họp của hợp tác xã và việc đánh giá các cơ quan quản lý tại xã cũng như việc tổ chức lao động tại xã. Mẫu khảo sát cho nội dung này là 45 người ở một đội sản xuất (32 nam và 13 nữ) được chọn theo kiểu mẫu hệ thống: cứ 5 hộ thì chọn 1 hộ (chủ hộ). Kết quả cho thấy có sự khác biệt trong tiêu chuẩn bầu cử cho chủ nhiệm hợp tác xã (đề cao năng lực kỹ thuật) với người đội trưởng đội sản xuất (đề cao sự trung thành với đường lối Đảng).

Chương IV đề cập đến “Những khía cạnh của tổ chức tập thể và của sự lãnh đạo”. Phần này được phân tích trên cơ sở dữ liệu điều tra nơi một mẫu gồm 41 cán bộ xã. Vấn đề tổ chức trong xã đang cho thấy có sự cân bằng nào đó của hai yếu tố trong bước quá độ đó là một phương hướng rõ ràng cho sự phát triển (cơ sở vật chất, quan hệ sản xuất mới…) và sự đồng tình của người dân thông qua sự tham gia của họ.

Để hiểu về một số quá trình xã hội nhất định đang diễn ra tại xã, Chương V đi vào phân tích các cơ quan văn hóa-xã hội. Theo các tác giả, các cơ quan xã hội-văn hóa là những địa điểm tập thể mới vì chúng đang đảm nhiểm những chức năng mà trước kia do gia đình mở rộng đảm nhiệm (tr. 168).  Vì là những điểm tập thể mới nên chúng đang tạo ra những vai trò mới gắn bó qua lại với nhau, và do đó, cũng có những quan hệ xã hội mới.

Chương VI của công trình bàn về “Gia đình và các chức năng của nó”. Phần này được dựa trên dữ liệu điều tra nơi 99 phụ nữ đã có chồng trên một tổng thể là 935 người (cứ 3 người chọn 1 người). Độ tuổi của những phụ nữ trong cuộc khảo sát này là từ 20-50 tuổi. Nội dung được phân tích theo các khía cạnh dân số học của gia đình như tuổi của vợ chồng, học vấn và nghề nghiệp của vợ chồng. Điều đáng chú ý là kết quả cho thấy tuổi chuẩn để kết hôn của nữ là 18. Điều này một phần là do luật pháp quy định nhưng phần khác quan trọng hơn là việc cải tạo các quan hệ sản xuất mang lại: tảo hôn trong xã hội truyền thống có hai chức năng là tạo sự thăng bằng về các quan hệ xã hội và sự thăng bằng về sức lao động, thế nhưng, hiện nay việc phân bổ sức lao động là do hợp tác xã qui định và với sự ra đời của mô hình gia đình hạt nhân (75% gia đình trong xã là gia đình hạt nhân) thì con gái được đi làm và đóng góp được tài chính cho gia đình. Như vậy, sự thay đổi trong tuổi kết hôn là kết quả của sự thay đổi về mặt xã hội chứ không hẳn là do luật pháp áp đặt (tr.221). Hơn nữa, kết quả phân tích cũng cho thấy việc tập thể hóa nền kinh tế nông thôn cũng đưa đến những hệ quả giống như công nghiệp hóa: cá nhân mở rộng được không gian xã hội của mình mà chỉ báo là phụ nữ có nhiều bạn bè hơn, nam giới cũng phát triển các mối quan hệ ngoài nghề nghiệp nhiều hơn.

Chương VII bàn đến “Những biến chuyển về văn hóa” tại xã được đo lường thông qua hai khía cạnh là quan niệm về nhà ở và việc sử dụng thời gian nhàn rỗi. Mẫu khảo sát cho nội dung nhà ở này là 93 người. Điều lý thú là các tác giả phân tích tác động của những sự thay đổi (do phương thức sản xuất mới và các giá trị làm cơ sở cho phương thức ấy gây ra) đến một số khía cạnh của nền văn hóa của dân làng. Các khía cạnh văn hóa được đo thông qua hai chiều cạnh là “quan niệm về nhà ở” và “việc sử dụng thời gian nhàn rỗi”. Bởi theo quan điểm xã hội học thì việc sắp xếp lãnh thổ và không gian ở là sự diễn đạt các mối quan hệ xã hội và góp phần tái tạo lại các mối quan hệ xã hội. Kết quả cho thấy những người trẻ (dưới 35 tuổi) có tỷ lệ tán thành kiểu nhà ở đang hiện hữu ít hơn cho với nhóm trên 35 tuổi. Những người trẻ ít có “quá khứ” nên hình như họ đòi hỏi nhiều hơn (muốn nhà có tầng, có phòng nhiều hơn), những người lớn thì có quá khứ và họ thấy nhà ở hiện tại là đã tốt lắm rồi nên ít muốn thay đổi hơn. Với chỉ báo sử dụng thời gian nhàn rỗi thì mẫu khảo sát là 74 người gồm 47 nam và 27 nữ (tr.313). Lập luận cho việc chọn chỉ báo này là vì ở giai đoạn quá độ này, lao động đã được qui định trong hợp tác xã và như thế, lần đầu tiên người dân phân ra được “thời gian lao động” và “thời gian không lao động” và họ phải có kế hoạch sử dụng thời gian này. Kết quả cho thấy có một sự thay đổi trong việc sử dụng thơi gian nhàn rỗi đó là người dân dần chọn những hình thức mới như xem phim và nghe đài thay cho những hình thức truyền thống như các cuộc hội họp nhóm và kể cả sân khấu.

Chương cuối cùng, Chương VIII bàn đến đời sống tôn giáo của người dân, tức nghiên cứu “Biến chuyển trong đời sống tôn giáo của các nhóm giáo dân”. Mẫu khảo sát cho phần này là 74 người. Các câu hỏi cho nội dung này là 16 mệnh đề nhằm sử dụng lối phân tích nhân tố để tìm ra các mô hình văn hóa của giáo dân (hay là các kiểu loại giáo dân). Kết quả cho thấy có 75% số người tác thành việc tổ chức xã hội theo lối mới, họ thuộc mô hình “sự tương hợp trong thực tiễn” giữa đức tin công giáo với xã hội chủ nghĩa.

Sau cùng là phần Kết luận. Các tác giả tóm lại một số ý kiến đã phân tích và gợi ra những hướng nghiên cứu xã hội học làm cơ sở cho lý thuyết xã hội học về sự quá độ. Phần này, các tác giả đưa ra một nhận định rất đáng quan tâm và hình như vẫn còn mang tính thời sự: “Một điều rất quan trọng và có lẽ cũng rất khó là làm sao xác định được các mục tiêu tập thể có thể làm cho người dân vượt qua được các giai đoạn sắp tới. Ý thức dân tộc rất mạnh trong truyền thống dân tộc Việt Nam đã được khơi dậy khá nhiều trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ xây dựng lại. Nhưng ý thức này không thể dùng làm mãi mãi được và không nên trông mong rằng các thế hệ mới, vốn không biết đến những nỗi đau khổ và sự say sưa của cuộc chiến đấu vũ trang để bảo vệ và thống nhất Tổ quốc, lại có cùng một nhịp điệu sống như vậy. Hơn nữa, những khát vọng về văn hóa của các thế hệ này, và cả những người lớn tuổi nữa, hình như là hướng tới tương lai và hướng ra ngoài hơn là hướng về quá khứ và về những giá trị của xã hội cổ truyền” (tr. 404-405).

III. Một số nhận xét về công trình nghiên cứu “Hải Vân…”

Chúng tôi cho rằng công trình nghiên cứu “Hải Vân…” là một cuốn sách giáo khoa về nghiên cứu xã hội học. Ở đó, ta thấy các bước đi nghiên cứu được thực hiện bài bản và toàn bộ nội dung được nghiên cứu đều tuân theo đúng nền tảng lý thuyết được sử dụng đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Điều đáng học hỏi là trong từng chủ đề nghiên cứu, các tác giả đã lý giải các chỉ báo để đo lường và phân tích. Công trình đã vận dụng nhiều kỹ thuật phân tích thống kê thuộc vào loại cao cấp và chúng tôi tự hỏi, liệu nó có dễ nắm bắt đối với các nhà nghiên cứu trẻ mới bước đầu tiếp xúc với xã hội học vào lúc ấy hay không.

Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu này có những hạn chế như sau:

Thứ nhất, cả hai nhà nghiên cứu vào lúc ấy đều không biết tiếng Việt. Như vậy, trong suốt quá trình nghiên cứu, họ chỉ làm việc thông qua phiên dịch. Trong bối cảnh chính trị-xã hội Miền Bắc trong những năm 1970-1980 vẫn còn có những ràng buộc về mặt chính trị, sự kiểm soát là khá lớn đối với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là những nhà nghiên cứu ngoại quốc. Thế nên, chúng ta có thể nghi ngờ về sự trung thực trong dịch thuật và điều này có thể dẫn đến việc phân tích không đúng với thực tế.

Thứ hai, các tác giả đã không làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc chọn xã Hải Vân như là một trường hợp điển hình để nghiên cứu. Chỉ có thông tin rằng đây là xã thuần nông và nghèo nhưng ở miền Bắc thời ấy thì xã thuần nông và nghèo là không hề ít. Theo phán đoán của chúng tôi, vì đây là xã gần như toàn tòng với 85% là người theo đạo Công giáo nên có thể đây là lý do khiến nó được chọn lựa. Dù thế nào, độc giả cũng không biết rõ lý do khoa học của việc chọn đơn vị nghiên cứu này.

Hạn chế thứ ba đó là công trình không trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu. Độc giả gần như không biết được mẫu nghiên cứu của công trình này là bao nhiêu người. Mỗi chủ đề lại có cỡ mẫu riêng và cỡ mẫu cũng không đủ lớn. Chẳng hạn ở Chương III “Việc lựa chọn cán bộ, ý kiến về những người lãnh đạo và việc tham gia trong hợp tác xã”, dung lượng mẫu chỉ là 45 người lao động ở một đội sản xuất trong xã (tr.108). Ở Chương VIII trình bày về sự “Biến chuyển trong đời sống tôn giáo của nhóm giáo dân” với mẫu nghiên cứu chỉ có 74 người, và người đọc phải tự tìm ra con số này (tr.374).

Có lẽ chính những hạn chế trên mà các tác giả đã khuyến cáo là không được coi công trình nghiên cứu này là có tính chất đại diện cho cho các xã ở Việt Nam, dù chỉ những xã ở đồng bằng sông Hồng cũng vậy. Hơn nữa, có một số cuộc điều tra cũng chưa tôn trọng những chuẩn mực của một mẫu hoàn toàn có tính chất đại diện (tr. 25). Hơn nữa, các tác giả cũng rất thận trọng khi chỉ đưa ra những giả thuyết như là những kết luận chứ không phải là những kết luận dứt khoát. Điều này thể hiện tính đáng tin cậy của cuộc nghiên cứu này. Do đó, đây là công trình có thể được xem là điển hình về phương pháp xã hội học đầu tiên sau năm 1975 ở Việt Nam.

Lê Minh Tiến

[*] Giảng viên Khoa XHH-CTXH-ĐNÁ, Đại học Mở TP.HCM

[†] Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Fran%C3%A7ois_Houtart; Jérome SAHABANDHU., (2005) Portraying the person and the work of François Houtart, Louvain-la-Neuve, The first of the interview series; Carlos Tablada PÉREZ., (2018) The decline of Centainties. Founding Struggles Anew: The Biography of François Houtart, Ruth Casa Editorial.

[‡] Bùi Đình Thanh & Trịnh Duy Luân., (2009) “30 năm hợp tác khoa học và hữu nghị giữa Viện Xã hội học Việt Nam và CETRI Bỉ (1979-2009)”,  Xã hội học, số 3: 19-22.