Nghiên cứu

Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của người Thái trong quá khứ của người Việt Nam (Full)

Liam C Kelley

Người dịch: Hoa Quốc Văn

Dẫn nhập

Năm 1479, sử gia Việt Nam Ngô Sĩ Liên soạn cuốn Đại Việt sử kí toàn thư (từ đây gọi là Toàn thư). Dựa vào 2 công trình sử trước đó, một được phác thảo ở thế kỉ XIII, và một được soạn trước khi Ngô Sĩ Liên làm sách của mình một chút, Toàn thư là công trình lịch sử đầu tiên của Việt Nam bắt đầu nói về thời viễn cổ và thảo luận về các nhân vật và sự kiện ở Đồng bằng sông Hồng trước khi có sự cai trị của Trung Hoa tại đây. Đặc biệt, Toàn thư chép rằng trước khi nhà Tần sáp nhập khu vực này vào đế quốc của nó năm 111 trước Công lịch, đã từng tồn tại một nước gọi là Văn Lang, cai trị bởi các nhân vật được biết đến với danh xưng Hùng vương. Toàn thư cũng miêu tả phạm vi địa lí của nước Văn Lang và chú thích rằng, trước hết, sau khi vua Hùng đời thứ nhất lên ngôi, ông đã:

置相曰貉侯,將曰貉將…王子曰官郎,王女曰媚娘。有司曰蒲正,世世以父傳子,曰父道。世主皆號雄王。

“…. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (…). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, đó gọi là con đường của người cha [phụ đạo]. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương”[1]

DaiVietSuKyToanThu

Tôi đã phiên âm tiếng Việt cho một số chữ trong đoạn văn này, hơn là dịch nghĩa thẳng từ chữ Hán cổ trong nguyên bản, bởi đối với bất cứ ai quen với ngôn ngữ đó, rõ ràng chúng không phải là các khái niệm Hán cổ chuẩn mực. Trên thực tế, có một cái gì đó xa lạ với những khái niệm này, và nếu chúng ta sẵn lòng tin Ngô Sĩ Liên rằng những từ ngữ đó đã được dùng 2000 năm trước khi ông viết sử, thì rõ ràng tính xa lạ của những khái niệm này là kết quả của tính chất cổ xưa của nó.

Dù vậy, làm thế nào Ngô Sĩ Liên biết được các chức danh đã từng tồn tại 2000 năm trước đó? Đây là câu hỏi dường như đã không gợi được sự quan tâm của các học giả ở Việt Nam trong nhiều thế kỉ sau khi thông tin này được ghi chép. Tuy nhiên, điều đó đã thay đổi trong nửa cuối của thế kỉ XX khi các học giả người Việt ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (DRV), hay Bắc Việt, cố gắng tạo ra một lịch sử mới cho đất nước họ ở thời hậu thuộc địa. Trong giai đoạn thập niên 1950s và 1960s, các học giả DRV đã nỗ lực tạo ra một lịch sử thích hợp với những tiêu chuẩn của nền học thuật “khoa học”, và lịch sử ấy đòi hỏi giải thích làm thế nào mà những khái niệm đó có thể xuất hiện trong một văn bản muộn hơn khoảng 2000 năm sau thời điểm chúng được cho là từng được sử dụng.

Các học giả này lập luận rằng những khái niệm ấy đã được truyền miệng qua nhiều thế kỉ. Trong khi một số người biết rằng sự truyền miệng khó mà chính xác được, tuy nhiên họ lại cố gắng củng cố quan điểm của mình với những lí lẽ “khoa học”. Chẳng hạn, sử gia Trần Quốc Vượng, lưu ý đại khái rằng “Có một quy luật tâm lí là những gì nên quên thì đều bị quên, còn những gì được người ta lưu truyền và được ghi nhớ thì sẽ là kí ức rất sâu đậm([2]). Nhà ngôn ngữ học Hoàng Thị Châu trong khi đó lại có lưu ý cụ thể hơn liên quan đến những thuật ngữ này rằng trong khi thông tin có xu hướng thay đổi khi được truyền miệng, thì thực tế rằng những cái tên cổ xưa đã có một ý nghĩa xa lạ với chúng ở thời điểm mà Ngô Sĩ Liên ghi chép chúng vào thế kỉ XV là một tín hiệu cho thấy thông tin này đã được sưu tầm một cách “khách quan” và được ghi chép lại bằng một phương cách “chính xác”([3]).

Các học giả Việt Nam lúc bấy giờ vì thế cho rằng những khái niệm đó dứt khoát có từ trước Công lịch, và đây là một quan điểm đã được chấp nhận rộng rãi. Hơn nữa, các học giả đương thời còn cho rằng những thuật ngữ này bắt nguồn từ “tiếng Việt cổ” được cho là dùng ở đồng bằng sông Hồng lúc bấy giờ. Như chúng ta sẽ thấy ở dưới, các học giả cho rằng tiếng nói cổ này là thứ ngôn ngữ chung mà ngày nay chúng ta thường cho là thuộc về các họ ngôn ngữ lai tạp như Mon-Khmer, Tai-Kadai, và Austronesian([4]). Gần đây hơn, tuy vậy, có một số học giả đã cho rằng những danh xưng ấy trước hết bắt nguồn từ tiếng Thái nhưng không giải thích rõ ràng tại sao những thủ lĩnh của một vương quốc cổ ở “Việt Nam” lại dùng các từ ngữ Thái([5]).

Tôi sẽ lập luận trong bài viết này rằng một số khái niệm rõ ràng có thể liên quan đến những từ ngữ được những người nói tiếng Thái sử dụng. Và trong khi có thể có thực tế là ở thiên niên kỉ đầu trước Công lịch, có một số người “nói tiếng Tiền-Thái” sống ở đồng bằng Sông Hồng hay ít nhất là có tiếp xúc với người dân khu vực đó, thì tôi cũng sẽ lập luận rằng không có chứng cứ nào cho thấy những khái niệm trongToàn thư đã dẫn ở trên xuất hiện từ thời ấy. Thay vào đó, tôi sẽ dám chắc rằng chúng có khả năng có niên đại từ thế kỉ XV khi Ngô Sĩ Liên viết cuốn biên niên sử của mình. Tôi cũng sẽ xem xét xem vì sao Ngô Sĩ Liên đưa những khái niệm mà người nói tiếng Thái sử dụng vào công trình sử học của mình. Cuối cùng, tôi sẽ lập luận rằng việc thâu nhập các thuật ngữ đó là một chỉ dấu cho thấy sự thay đổi các mối quan hệ giữa người Việt và người Thái lúc bấy giờ, khi người Việt dần thống trị những láng giềng Thái của họ. Những từ ngữ này vì thế phản ánh cái nhìn của giới tinh hoa người Việt về chỗ đứng phù hợp của người Tai trong thế giới Việt ở thế kỉ XV.

thaimusic

Vài thế kỉ sau, ở nửa cuối thế kỉ XX, các học giả cũng dùng các từ ngữ Thái để biện luận cho một chỗ đứng của người Thái trong sử Việt. Chỗ đứng mà họ hình dung về người Thái, tuy vậy, rất khác với những gì Ngô Sĩ Liên đã đề xuất. Những khái niệm này do đó là chủ đề mà bài báo này sẽ khảo sát. Nó sẽ bao gồm cả sự khảo xét những cách các học giả sử dụng, đặc biệt là các học giả Việt Nam, để cố gắng nắm bắt vị trí của người Thái trong sử Việt qua những khảo sát của họ về những từ ngữ Thái nhất định, và sau đó nó sẽ cố gắng cung cấp một cách lí giải mới dựa trên chính những chứng cứ ngôn ngữ đó.

Người Thái ở vùng ngoại biên trong quá khứ Việt Nam

Các học giả Việt Nam hiện đại từ lâu đã nhận ra rằng  về mặt lịch sử có sự tiếp xúc đáng kể giữa những người nói tiếng Thái với những người mà ngày nay chúng ta gọi là người Việt. Ngay từ năm 1912, nhà Hán học người Pháp Henri Maspero đã tìm thấy nhiều chứng cứ về sự tiếp xúc ngôn ngữ khiến ông cho rằng tiếng Việt là một chi ngôn ngữ Thái. Maspero nghĩ rằng tiếng Việt hẳn được cấu thành trong một khu vực địa lí ở những vùng ranh giới của các khu vực mà người ta thấy có những người nói tiếng Mon-Khmer, Thái và tiếng Trung, và rằng tiếng Việt chịu ảnh hưởng của tất cả các thứ tiếng đó, và có lẽ cả những thứ tiếng khác nữa. Tuy nhiên, Maspero quy vai trò đặc biệt quan trọng cho tiếng Thái và kết lại nghiên cứu của mình bằng lưu ý rằng “thứ ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đem lại dạng thức hiện đại cho tiếng An Nam (tức tiếng Việt), theo tôi là một ngôn ngữ Thái, và tôi nghĩ ,tiếng An Nam phải được gắn kèm với ngữ tộc Thái”[6].

Bổ sung thêm cho việc coi tiếng Việt là một ngôn ngữ Thái, Maspero cũng xem những tộc người Thái nhất định là những đại diện cho cái mà chúng ta gắn mác là Đông Nam Á cổ. Trong một tiểu luận có tên “Xã hội và Tôn giáo của người Trung Hoa cổ và của người Thái hiện đại”, Maspero so sánh đời sống, lễ hội, tôn giáo, huyền thoại và tục tang ma của người Thái Đen và Thái Trắng sống ở những vùng núi giữa Việt Nam và Lào vào đầu thế kỉ XX với những nhân tố tương tự ở Trung Quốc cổ. Rốt cuộc, Maspero cho rằng cái thế giới mà chúng ta có thể thấy trong các văn bản Hán cổ như Kinh Thi rất giống với thế giới của người Thái Đen và Thái Trắng, và rằng hai tộc người này vì vậy đại diện cho một thế giới chung của thời cổ đại đã dần dần bị quên lãng trên phạm bi rộng bởi sự phát triển văn hoá xã hội khác nhau[7].

Nói khác đi, đối với Maspero người Thái là một tộc người quan trọng, nhưng sự quan trọng đó nằm ở đâu đấy trong quá khứ xa xôi. Sự song hành mà chúng ta thấy giữa đời sống của người Thái Đen và Thái Trắng ở vùng núi bán đảo Đông Dương với lối sống của người Hoa cổ như được thể hiện trong Kinh Thi là một chỉ dấu rõ ràng về tính cổ của họ. Hơn nữa, nghiên cứu của ông về ngôn ngữ cũng chỉ cho ông thấy rằng ngữ tộc Thái đã đem lại sự phát triển cho tiếng Việt. Tuy nhiên, Maspero không thể lịch sử hoá một cách rõ ràng quá trình này. Hệ quả là, ông đặt người Thái vào trong lịch sử Việt Nam, nhưng vị trí của họ nằm ở một nơi bất định nào đó trong quá khứ.

Cảm giác chung của Maspero về vai trò của người Thái trong quá khứ của người Việt được hưởng ứng trong các công trình của các nhà sử học người Hoa là Xu Songshi (Từ Tùng Thạch) và Chen Jinghe (Trần Kinh Hòa). Xu Songshi là một học giả tham gia vào việc nghiên cứu lịch sử về người Quảng Đông nói riêng miền Nam Trung Hoa nói chung. Ở nửa đầu thế kỉ XX, các học giả đều nhận thức rõ rằng ở Nam Trung Hoa thời cổ có nhiều sắc tộc, và một trong những nhóm xuất hiện ở đó bao gồm những người nói tiếng Thái([8]). Xu Shongshi đóng góp cho nhận thức đó bằng một công trình năm 1946 có tên Nghiên cứu về Thái, Tráng và Việt (Việt ở đây ông chỉ người Quảng Đông). Trong công trình này, Xu Songshi chỉ ra rằng có nhiều địa danh khác nhau từ Nam Trung Hoa cho đến tận Bắc Việt đều bắt nguồn từ tiếng Tráng, một ngôn ngữ Thái. Chẳng hạn, ông khẳng định rằng có nhiều địa danh bắt đầu bằng chữ “Gu” (古) hay “cổ” trong tiếng Việt, một khái niệm mà ông cho là đến từ tiếng Tráng và đã được lí giải bằng nhiều cách , từ nghĩa là “Tôi” đến nghĩa là một loại từ, rồi chỉ một ngọn núi không có cây cối trên đó. Ông cũng lưu ý rằng những địa danh như thế có thể được tìm thấy trong quá khứ từ tỉnh An Huy, nay là miền Trung Trung Hoa, đến tỉnh Quảng Tây ở phía Tây Nam, một khu vực mà ông cho là người Thái đã sinh sống trong lịch sử[9].

Xu Songshi cũng trích dẫn một công trình xuất bản năm 1877, Việt Nam tập lượccủa Xu Yanxu (Từ Diên Húc), được cho là có chứa một bản đồ về các quận ở Việt Nam khi nó nằm dưới sự cai trị của Trung Hoa vào đầu thế kỉ XV[10]. Bản đồ này rõ ràng liệt kê những địa danh nằm ở Bắc Việt ngày nay như: Cổ Bàng (古榜), Cổ Lão (古老), Cổ Lễ(古禮), Cổ Dũng (古勇), Cổ Long (古龍), Cổ Phí , (古費), Cổ Đằng (古藤), Cổ Hồng [Hoằng] (古宏), Cổ Lôi (古雷), Cổ Bình (古平), Cổ Đặng (古鄧), Cổ Xã (古社), and Cổ Nông (古農). Thêm vào đó, Xu Songshi khẳng định rằng những chữ như tư/si (思), đô/du (都), đa/duo (多), na/na (那), bố/bu (布), và điều/diao (調) cũng thể hiện các từ Tráng, và rằng ở Việt Nam thế kỉ XV cũng có  những địa danh chứa những chữ đó như: Na Ngạn (那岸), Lục Na (陸那), Đa Cẩm (多錦), Đa Dực (多翌), Tư Dung (思容), Điều An (調安) và Bố Chân (布真)[11]. Thật không may, Xu Songshi không cho biết những khái niệm khác này có nghĩa là gì trong tiếng Tráng, mặc dù bất kì ai quen với tiếng Thái cũng có thể nói rằng “na/na” là khái niệm chỉ một cánh đồng.

Vì vậy, trong khi Xu Songshi chỉ ra rằng có một sự hiện diện mạnh mẽ của người Thái trong lịch sử ở đồng bằng sông Hồng, ông không cung cấp một lí giải lịch sử rõ ràng về việc hiện tượng đó diễn ra thế nào. Ông lưu ý rằng lúc bấy giờ, năm 1946, có khoảng 200.000 người nói tiếng Thái ở Việt Nam, và ông nói rằng nhóm dân người trong đó đã bắt đầu di cư vào khu vực này ngay từ triều Hán[12]. Tuy nhiên, năm 1946, những tộc Thái này sống chủ yếu ở miền núi, trong khi đó những địa danh Thái mà Xu Shongshi liệt kê đến từ các khu vực ở Đồng bằng sông Hồng kéo dài về Nam đến tận miền Trung Việt Nam. Do đó, Xu Songshi đã để lại một lượng lớn những vấn đề chưa được lí giải về sự hiện diện của người Thái trong lịch sử Việt Nam.

Ngay sau khi Xu Songshi công bố nghiên cứu trên đây, một học giả trẻ học tại Nhật đến từ Đài Loan có tên Chen Chinghe đã theo đuổi một vấn đề có vẻ như là địa danh Thái ở Việt Nam. Chen Chinghe đã bổ sung thêm nhiều địa danh bắt đầu bằng cổ/gu, hay những chữ có âm thanh tương tự, như cự/ju (巨), vào danh sách của Xu Songshi bằng việc khảo sát một văn bản của người Việt năm 1335 là cuốn An Nam chí lược. Văn bản này liệt kê một số làng ở khu vực Bắc Trung Bộ ngày nay, trong đó có những cái tên như: Cổ Đằng (古藤), Cổ Hoằng (古弘), Cổ Chiến (古戰), Cự Lại (巨賴), and Cự Lam (巨藍)[13].

Sau đó, Chen đi đến một sự thảo luận chi tiết về khái niệm này, “cổ” hoặc “cự”, và rốt cuộc cho rằng nó có nghĩa là “người” hay “dân”. Rồi ông khảo sát bảng ngữ vựng của các ngôn ngữ Thái khác nhau, cũng như Chàm, Khmer và Mon, và nhận thấy rằng trong nhiều ngôn ngữ Thái, có những từ chỉ “người” bắt đầu với âm “k” như “khon” trong tiếng miền Trung Thái hiện đại. Từ quan sát này, Chen cho rằng khái niệm “cổ” hay “cự” là một phiên bản Việt Nam của một khái niệm chung thời cổ[14]. Ông không nói rằng người Thái hiện hiện ở đồng bằng sông Hồng, mà là rằng người Việt mang khái niệm này theo khi họ di cư về phía Nam vào khu vực này, kèm theo một hiểu biết được chấp nhận lúc bấy giờ rằng người Việt vốn di cư về phía Nam vào khu vực này từ những khu vực ở Nam Trung Hoa. Nói khác đi, cũng như Maspero, Chen Chinghe hình dung sự kết nối quan trọng giữa người Thái và người Việt, nhưng đó là một sự kết nối nằm ở đâu đó trong quá khứ xa xôi, trước khi lịch sử Việt Nam thực sự bắt đầu.

Ý tưởng rằng có một mối liên hệ cực kì gần gũi giữa ngôn ngữ Thái và tiếng Việt này, như Maspero lập luận, là một quan điểm mà rốt cuộc đã bị nghi ngờ ở thập niên 1950s bởi một học giả Pháp là André-Georges Haudricourt. Điều Haudricourt đề xuất, và điều các học giả từ thời đó đã đi đến nhất trí là tiếng Việt là thứ tiếng Mon-Khmer[15]. Tiếng Việt và Thái do vậy là những ngôn ngữ rất khác nhau. Tuy nhiên, tiếng Việt cho thấy những dấu hiệu không thể chối cãi về sự tiếp xúc với các ngôn ngữ Thái, và vì vậy phát hiện của Haudricourt vẫn để lại những câu hỏi mở về bản chất và lịch sử của sự tiếp xúc ấy.

Sự “hỗn hợp” Thái-Việt

Ở thập kỉ 1950s, sau khi Việt Nam giành được độc lập từ chính quyền thực dân Pháp, một số học giả Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, dưới chính thể DRV, bắt đầu khảo sát vấn đề về mối quan hệ giữa người Việt và người Thái này. Trong các thập niên 1950s-1960s, các nhà sử học DRV nhiều lần hối thúc nhau tạo ra bước tiến mới trong sử học bằng cách kết hợp với các công trình của các nhà ngôn ngữ học, dân tộc học và khảo cổ học. Thông qua sự kết hợp với các lĩnh vực khác – đặc biệt là ngôn ngữ học và dân tộc học – các học giả Việt Nam ở miền Bắc ấy đã chạm đến vấn đề về người nói tiếng Thái trong lịch sử Việt Nam. Xa hơn, các học giả lúc bấy giờ làm việc trong một diễn ngôn chính trị rộng lớn vốn nỗ lực thâu nhập các dân tộc ít người vào một tự sự về dân tộc Việt Nam. Dự án này khá phức tạp và nhiều lần mâu thuẫn, nhưng nó đóng vai trò một bầu khí quyển chung mà trong đó các học giả làm việc[16].

Một công trình khá sớm của một học giả Việt Nam, bàn về vai trò của người Thái trong lịch sử Việt Nam, là cuốn Các dân tộc nguồn gốc Nam-Á ở miền bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyên. Xuất bản năm 1963, nghiên cứu này kết hợp những quan điểm từ các lĩnh vực như dân tộc học và ngôn ngữ học để thảo luận về người Thái và các nhóm sắc tộc khác. Trong sách này, Vương Hoàng Tuyên trước hết khảo sát các cứ liệu dân tộc học, và chứng minh rằng người Việt chia sẻ những thực hành văn hoá, tín ngưỡng và các dạng văn hoá vật thể với cả người Nam Á và người Thái (Thái là khái niệm ông dùng xuyên suốt công trình của mình). Trong đó, các ví dụ mà ông trích dẫn là: những ngôi nhà được chạm trổ, những trang trí nhất định trên phần cuối mái, tục nhai trầu cau và nhuộm răng, tục xăm mình, kĩ thuật giã gạo trong một cái cối bằng một cái chày dài. Về tín ngưỡng, Vương Hoàng Tuyên lưu ý rằng tất cả những tộc người đó trong truyền thống đều giữ một sự tôn sùng lúa gạo, một thực tế mà người ta có thể nắm chắc từ những hình ảnh trên các trống đồng cổ, cái mà ông cho rằng cũng là một nhân tố được chia sẻ trong các nền văn hoá vật thể của người Nam Á và người Thái[17].

Rồi Vương Hoàng Tuyên chuyển sang bàn về các thực hành văn hoá nhất định chỉ được chia sẻ giữa người Việt và người Thái. Ở đây, ông đề cập đến việc thờ rồng như một tô tem, nghi lễ tôn vinh bà mụ, các kiểu ăn mặc giống nhau giữa phụ nữ Thái và Việt, tập quán tổ chức đua thuyền vào đầu năm. Bổ sung vào những nhân tố chung đó, Vương Hoàng Tuyên cho rằng các địa danh nhất định cũng chỉ ra mối liên hệ lịch sử giữa người Thái và người Việt. Cụ thể, Vương Hoàng Tuyên lưu ý rằng có nhiều địa danh ở Bắc Việt chứa khái niệm “mường”. Ở các khu vực sinh sống của người Thái, có những cái tên như Mường La, Mường Lay, trong khi ở những khu vực tộc người Mường sinh sống ở tỉnh Hoà Bình, có những cái tên như Mường Vang, Mường Bi.

Dựa trên cứ liệu này, Vương Hoàng Tuyên cho rằng các địa danh ấy cho thấy trong quá khứ xa xưa, người Việt chịu ảnh hưởng bởi văn hoá Thái. Ông so sánh điều này với điều ông xem là ảnh hưởng muộn hơn của người Trung Hoa (hay ông gọi là người Hán). Trong khi sự thiết lập quyền kiểm soát hành chính lên khu vực của người Hán đã để lại dấu ấn của nó lên các địa danh, thì viêc sự tồn tại tiếp tục của khái niệm “mường” cũng để lại dấu ấn lên các địa danh chỉ ra rằng sự tiếp xúc giữa người Thái và Việt có trước thời điểm đó[18].

Sau khi khảo sát mối quan hệ về chủng tộc giữa người Việt, người Thái và các tộc người khác, Vương Hoàng Tuyên chuyển sang lĩnh vực ngôn ngữ học. Ông khảo sát cái mà sau đó đã trở thành điểm còn gây tranh cãi về việc phân loại tiếng Việt, khẳng định của Maspero rằng nó thuôc ngôn ngữ Thái còn Haudricourt rằng nó thuộc tiếng Nam Á, và đứng về phía Haudricourt. Tuy nhiên, Vương Hoàng Tuyên vẫn cho rằng về mặt lịch sử có một mối quan hệ đặc biệt giữa tiếng Thái và tiếng Việt. Ông nói rằng đây là một mối quan hệ mà các học giả chưa nghiên cứu một cách thoả đáng. Vì vậy, ông cố gắng lí giải mối quan hệ này bằng việc chỉ ra những khu vực nhất định mà tiếng Việt và tiếng Thái đã chia sẻ bảng từ vựng chung. Vương Hoàng Tuyên không viết bất kì khái niệm Thái nào bằng văn tự Thái. Ông chỉ dùng chữ Việt Nam hiện đại, quốc ngữ, để phiên âm các khái niệm Thái. Điều này nhiều lần gây khó khăn cho việc kiểm tra độ chính xác trong các tuyên bố của ông. Tôi sẽ cung cấp một số ví dụ của ông dưới đây và bổ sung trong ngoặc đơn nghĩa tiếng Anh của các khái niệm, cũng như những từ tương đương có thể có trong tiếng Thái Đen (trong ngoặc vuông) khi mà đây chính là ngôn ngữ Thái gần nhất với những gì Vương Hoàng Tuyên đã xử lí nhằm có được những chứng cứ tương đối rõ ràng[19].

1)     Các từ chỉ các phương diện về kinh tế ở một giai đoạn phát triển cụ thể:

Cày (to plow, cultivate) =  thay [BT, thay]

bầu (gourd) = pầu [BT, tảo]

chuối (banana) = khuối [BT, cuối]

2)     Những từ thể hiện các điều kiện sống tương ứng với trình độ của một nền kinh tế đã phát triển:

Bát (bowl) = pát [BT, thuổi][20]

Đũa (chopsticks) = thúa [BT, thú][21]

Ninh (to stew, braise, boil for a long time) = ninh [BT, ?]

3)     Những từ chỉ các khái niệm phức tạp trong cuộc sống

Bơi (to row, paddle) = pơi [BT, bải, pái]

bịt (to cover) = pít [BT, ?]

nợ (debt, to owe) =  nơ, ni [BT, ni]

Sau khi trình bày ba từ đầu tiên (cày, bầu, chuối), Vương Hoàng Tuyên lưu ý rằng công dụng của một cái bát thể hiện trình độ cao trong nông nghiệp. Ông cũng cho rằng các thông tin lịch sử và khảo cổ học cho thấy rằng việc sử dụng những chiếc bát chỉ bắt đầu ở thiên niên kỉ đầu trước Công lịch, quanh thời điểm người Trung Hoa xác lập quyền cai trị của họ ở khu vực này, và ông bình luận rằng một chiếc bát cổ đã được phát hiện gần đây ở tỉnh Yên Bái, nằm về phía Tây Bắc đồng bằng sông Hồng, trong một khu vực người Thái sinh sống. Thông tin này, và bình luận trước của ông về tình trạng tiếp tục sử dụng khái niệm “mường”  tương đồng với việc tình trạng tiếp tục đặt địa danh của người Hán, đã làm rõ một điều rằng Vương Hoàng Tuyên nghĩ người Thái đã hiện diện và ảnh hưởng đến người Việt. Trên thực tế, ông rốt cuộc còn đưa ra một giả thiết rằng khởi đầu có những người nói tiếng Mon-Khmer sống ở khu vực Bắc Việt ngày nay trong khi ở một thời điểm nào đó trong quá khứ xa xưa có một cuộc di cư của những người nói tiếng Thái vào khu vực ngày nay là Nam Trung Hoa. Sự “hỗn hợp” từ đó đã tạo ra một cư dân thống nhất sống ở khu vực này ngay trước khi sự cai trị Trung Hoa hiện diện[22].

Mặc dù ngày nay chúng ta có thể nhận thấy sai sót ở những chi tiết trong học thuật của Vương Hoàng Tuyên, nhưng toàn bộ những phát hiện của ông vẫn khá ấn tượng cho đến bây giờ. Vương Hoàng Tuyên cố gắng lí giải mối liên hệ về dân tộc học và ngôn ngữ học phức tạp giữa người Việt, người Thái và các tộc nguời khác, và ông đi đến kết luận rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ họ Nam Á, có một sự liên hệ đáng kể giữa người Việt và người Thái. Điều cũng khá ấn tượng là việc Vương Hoàng Tuyên nỗ lực tìm kiếm một sự lí giải lịch sử cho những liên hệ đó. Tức là, với cứ liệu cho thấy từ “bát” bắt nguồn từ tiếng Thái, và địa danh Thái vẫn tồn tại, Vương Hoàng Tuyên đã có thể mô tả một quá trình tương tác cụ thể hơn là sự “hỗn hợp” kia. Cứ liệu mà ông cung cấp và cung cách ông cung cấp cứ liệu dễ dàng có thể được dùng để lập luận rằng người Thái hẳn đã “chinh phục” các tộc người nào đó trước khi người Hán đến và làm việc tương tự. Tuy nhiên, Vương Hoàng Tuyên tự kiềm chế mình không đưa ra một lập luận cụ thể như vậy, và rất nhanh chóng, việc đưa ra những tuyên bố như thế trở nên bất khả.

Các dân tộc anh em

Ở thập kỉ 1950s và vào đầu thập niên 1960s, có một mức độ tranh luận đáng ngạc nhiên về quá khứ giữa các học giả DRV. Tuy nhiên, khi thập niên 1960s qua dần, điều này bắt đầu thay đổi và cho đến đầu thập niên 1970s, các tranh luận về quá khứ về cơ bản được tuyên bố là đã được giải quyết và khép lại. Nguyên nhân của sự thay đổi này là chính phủ DRV ngày càng đòi hỏi một nền sử học phải phù hợp với nhãn quan của nó về quá khứ, và hiện tại của nó cần phải dựng lên một dân tộc của thời chiến và của sự bất định hậu thuộc địa. Trong các lĩnh vực lịch sử về các mối quan hệ sắc tộc, chính phủ DRV hối thúc các học giả tìm ra một vị trí cho các dân tộc ít người trong bản tự sự mang tính quốc gia/dân tộc[23]. Điều bắt buộc, như ngày nay vẫn vậy, là bản tự sự này phải là một câu chuyện về sự thống nhất và chung sống hòa bình.

Khi đọc sản phẩm học thuật của giai đoạn này, rõ ràng những tìm tòi của các học giả đã thỏa mãn các yêu cầu của chính phủ. Tuy nhiên, không rõ liệu các học giả đó có làm điều ấy một cách duy ý chí, và thực sự nghĩ khác, hay họ thực tâm tin vào nhãn quan của chính phủ về quá khứ và cố gắng tìm cách chứng minh nó. Kết luận của Vương Hoàng Tuyên rằng có sự “hỗn hợp” đã xảy ra giữa người Thái và người Mon-Khmer ở đồng bằng sông Hồng về mặt cứ liệu gợi ý một sự tương tác bất bình đẳng hơn [sự hỗn hợp] là một ví dụ của điều này. Tuy nhiên, ít nhất ông cũng đã cung cấp cứ liệu mà độc giả có thể dùng để hình thành quan điểm của riêng họ. Trong những năm nhuốm màu dân tộc chủ nghĩa cực đoan cuối thập niên 1960s đầu 1970s, tuy vậy, ngay cả những dẫn chứng do các học giả cung cấp cũng trở nên có vấn đề. Một ví dụ về điều này có quan hệ trực tiếp với chủ đề của chúng ta ở đây có lẽ là công trình của học giả Hoàng Thị Châu. Cuối thập niên 1960s, Hoàng Thị Châu viết hàng loạt bài báo về chính những từ ngữ được đề cập ở đầu tiểu luận này. Bất kể bà có cố tình hay không, công trình học thuật của bà phù hợp hoàn toàn với đòi hỏi của nhà nước lúc bấy giờ về các cứ liệu chứng minh rằng các mối quan hệ sắc tộc ở Việt Nam luôn luôn hài hòa và đầm ấm.

Khi tiến hành nghiên cứu, Hoàng Thị Châu chịu ảnh hưởng của, bên cạnh những công trình khác, một ấn bản của nhà ngôn ngữ học Mỹ Paul K. Benedict. Năm 1942, Benedict viết một bài báo có tiêu đề “Tiếng Thái, Kadai và tiếng Indonesia: Một sự liên kết ở Đông Nam Á” trong đó ông biện luận cho một mối liên hệ giữa những gì ngày nay chúng ta gọi là tiếng Thái và tiếng Austronesian, như Chăm và Malay[24]. Trong khi Benedict không hướng trực tiếp đến câu hỏi làm thế nào hoặc liệu tiếng Thái và Austronesian có liên quan đến các ngôn ngữ Nam Á, như các ngôn ngữ Mon-Khmer mà người ta có thể thấy ở bán đảo Đông Dương, hay không, ông lại đề cập lướt qua rằng sự liên kết của tiếng các ngôn ngữ Thái-Kadai-Indonesian có lẽ đã cấu thành một phần của siêu kho Austric rộng lớn hơn. Khái niệm “siêu kho Austric” này được phát triển năm 1906 bởi nhà ngôn ngữ học người Đức là Wilhelm Schmidt, người đã cho rằng ngôn ngữ Mon-Khmer và Austronesian có quan hệ với nhau[25]. Do đó, nếu theo Benedict, tiếng Thái và Indonesian có quan hệ với nhau, và từ lúc ấy tiếng Indonesian rõ ràng là một ngôn ngữ Austronesian, thì theo Schmidt, cũng phải có một liên hệ giữa những ngôn ngữ đó với các ngôn ngữ Nam Á.

Chịu ảnh hưởng quan điểm của Benedict, Hoàng Thị Châu đưa vào nghiên cứu của mình niềm tin rằng các ngôn ngữ khác nhau như Tráng, Khmer và Cham rốt cuộc đều có liên quan đến nhau, và ý tưởng này rõ ràng ảnh hưởng đến cung cách bà khảo sát những khái niệm bí ẩn mà chúng ta thấy trong Toàn thư ấy. Một trong những bài báo của bà được dành cho khái niệm “phụ đạo”, trong Toàn thư có nghĩa đen là “con đường của người cha”, và xuất hiện trong các dòng: “đời đời cha truyền con nối, đó gọi là con đường của người cha [phụ đạo]”. Hoàng Thị Châu cho rằng “phụ đạo” là khái niệm chỉ một vị thủ lĩnh. Bà lập luận như vậy bằng cách lưu ý rằng có những khái niệm có âm tương tự như thế trong “tiếng dân tộc thiểu số” ở Việt Nam chỉ một vị thủ lĩnh, như tiếng Chăm (pa tao), Jarai (pơtao) Rhade (mơtao), Bahnar (ba đao), Mường (đạo), cũng như Thái và Tày (tạo)[26]. Bà cũng chỉ ra rằng có những ghi chép thời Lê (1428 – 1788) trong đó rõ ràng cái tên “phụ đạo” tiếp tục được sử dụng ở các khu vực mà người Thái, Tày và Mường sinh sống. Từ đây, bà kết luận rằng khái niệm hiện tại chỉ vị thủ lĩnh trong tiếng Thái và Tày (tạo), cũng như Mường (đạo), đều có nguồn gốc từ “phụ đạo”, và rằng điều này tạo nên một ví dụ về việc từ đa âm tiết trong “tiếng Việt cổ” đã chuyển thành từ đơn tiết. Thêm nữa, Hoàng Thị Châu cũng lưu ý rằng từ “phụ đạo” chỉ ra “quan hệ họ hàng” giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ xung quanh, và rằng khái niệm này cho phép chúng ta nghe “âm thanh của tiếng nói thời xưa”[27].

Trong một bài báo tiếp theo, Hoàng Thị Châu khảo sát một số khái niệm khác chúng ta thấy trong Toàn thư. Cụ thể, bà tập trung vào các tên gọi dành cho con trai Hùng vương (quan lang), con gái (mị nương), và quần thần của ông (bồ chính). Trong bài báo này, Hoàng Thị Châu quy những khái niệm này cho “truyền thuyết dựng nước của dân tộc”, theo đó ngụ ý rằng chúng đã được truyền miệng qua nhiều thế kỉ trước khi rốt cuộc cũng được ghi chép lại. Bà cũng làm theo kĩ thuật tương tự đã áp dụng trong các bài báo trước và giải thích nghĩa của những khái niệm này bằng cách chỉ ra sự tồn tại của những từ cùng gốc trong cái mà bà gắn mác ở đây, trong sự ứng hợp trọn vẹn với quan điểm chính thức của chính phủ DRV về các mối quan hệ sắc tộc trong lòng Việt Nam, là “ngôn ngữ dân tộc anh em”.

Chẳng hạn, Hoàng Thị Châu lưu ý rằng “bồ chính” là một người phò tá cho Hùng vương, và trong tiếng Jarai, người trợ tá cho các thủ lĩnh cha truyền con nối, tức “pơ tao”, được gọi là “pô ta rinh”. Rồi bà khảo sát khái niệm “mị nương” và khẳng định rằng có những mối liên hệ giữa mỗi một từ đơn trong từ ghép này với các từ trong các ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, bà cho rằng “mị” tương ứng với những từ biểu ý một cô gái hay phụ nữ trong các ngôn ngữ như Mường (mại), Cham (ca mái), Bahnar (mai), and Santali (mai), một thứ tiếng Nam Á được dùng ở các phần của Ấn Độ, Bangladesh, Nepal và Bhutan. Bà cũng chỉ ra rằng từ trong tiếng Lào và Thái chỉ phụ nữ là “me nhinh”, nhưng không giải thích mỗi từ đơn trong đó có nghĩa là gì. Tuy nhiên, bà có lưu ý rằng có một từ, “nàng”, trong tiếng Thái và Tày chỉ một người phụ nữ có địa vị cao, là nghĩa mà bà đề nghị là tương đồng với từ “nương” trong “mị nương”. Cuối cùng, bà cho rằng có một khái niệm trong tiếng Malay và Indonesia để chỉ “quý bà” là “đang”, và rằng đây là một khái niệm tương tự như nương/nàng, trong khi tuyên bố rằng rất dễ để âm “n” chuyển thành âm “d” và ngược lại[28].

Rồi Hoàng Thị Châu chuyển sang khảo sát khái niệm “quan lang”. Bà khẳng định rằng nhiều tác giả đã cho rằng khái niệm quan đến từ tiếng Trung, guan, chỉ một quan chức. Tuy nhiên, Hoàng Thị Châu bác bỏ lí giải này, trong khi lập luận rằng khái niệm này được Hùng vương sử dụng, tức là, trước giai đoạn tiếp xúc với tiếng Hán. Thêm nữa, bà khăng khăng rằng khái niệm quan lang hẳn là một cấu trúc song hành với mị nương, và cũng như cả hai từ trong khái niệm “mị nương” nghĩa là một phụ nữ, quan phải chỉ một người đàn ông, mặc dù bà không cung cấp một cứ liệu gì lí giải cho khái niệm “quan” này trong bất cứ ngôn ngữ nào. Tuy nhiên, trong trường hợp “lang”, Hoàng Thị Châu cho rằng đây là một khái niệm tôn kính dành cho một người đàn ông trong tiếng Mường, Tày và Thái, và rằng nó là một từ tương tự như từ chỉ một người đàn ông trong các ngôn ngữ như Bahnar (dranglo), Rhade (arang), Cham (arang) rồi Malay và Indonesian (orang)[29].

Ở cuối bài báo này, Hoàng Thị Châu lưu ý rằng những cái tên trên đây không gần gũi với những từ người Việt sử dụng ngày nay. Bà cho rằng điều này là bởi những cư dân của xã hội Văn Lang không còn thuần nhất. Trải qua thời gian, họ chia thành các tầng lớp xã hội khác nhau, đến một thời điểm họ cần những khái niệm riêng cho từng tầng lớp[30]. Do đó, điều Hoàng Thị Châu có đã vẻ tin là những khái niệm này thực sự thể hiện âm thanh của “thứ” tiếng nói trong quá khứ, và rằng thứ tiếng nói này được dùng bởi hầu như tất cả những tộc người mà ngày nay đang sinh sống tại quốc gia Việt Nam hiện đại. Đây là cái nhìn cộng hưởng với công trình của Trần Quốc Vương cũng xuất hiện xung quanh thời điểm này, người cho rằng khái niệm “hùng” trong danh xưng Hùng vương là một từ Việt cổ gần với những từ chỉ một lãnh tụ trong tiếng Thái (khun) và Mundari (khunzt), một ngôn ngữ Nam Á[31].

Liên minh Thái Nam Cương

Trong khi các học giả như Hoàng Thị Châu và Trần Quốc Vượng đang vẽ ra mối liên hệ giữa tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác nhau, thì đồng thời các học giả khác lại phát triển một sự lí giải lịch sử cho mối quan hệ đặc biệt gần gũi giữa người Việt và những người nói tiếng Thái. Sự lí giải này dựa trên những hoạt động của một nhân vật lịch sử bí ẩn có tên là An Dương Vương. Theo Toàn thư, Hùng vương cai trị nước Văn Lang qua nhiều đời cho đến năm 257 trước Công lịch, một cá nhân đã tấn công và lật đổ Hùng vương cuối cùng rồi tự xưng là An Dương Vương.

An Dương vương có vẻ là một nhân vật lịch sử có thật. Nguồn tư liệu chính có thông tin về ông đến từ Giao Châu ngoại vực kí, một tác phẩm ở cuối thế kỉ 3 hoặc đầu thế kỉ 4 sau Công lịch. Công trình này không còn nhưng những trích đoạn của nó được bảo tồn trong văn bản thế kỉ 6, cuốn Thuỷ kinh chú của Lịch Đạo Nguyên. Ở văn bản này, Giao Châu ngoại vực kí chép rằng ở một thời điểm nào đó trong lịch sử có những vị thủ lĩnh ở khu vực ngày nay là đồng bằng sông Hồng được gọi là “Lạc”, chứ không phải là “Hùng”, một chủ đề chúng tôi sẽ còn trở lại trong bài viết này, và rằng sau đó họ bị An Dương Vương đánh bại. Trích:

Giao Châu ngoại vực kí chép rằng ‘trong quá khứ, trước khi Giao Chỉ có quận và huyện, vùng đất này đã có ruộng Lạc. Ruộng này theo sự lên xuống của nước lũ, và vì vậy người dân đã khai khẩn ruộng này để trồng cấy, họ được gọi là dân Lạc. Lạc vương và Lạc hầu được bổ nhiệm để cai trị các quận huyện khác nhau. Nhiều huyện có các lạc tướng. Lạc tướng đeo ấn đồng treo trên dây thao xanh. Sau đó con trai của vua Thục dẫn 30000 quân tấn công Lạc Vương. Lạc hầu đem Lạc tướng ra hàng. Con trai của vua Thục sau đó được gọi là An Dương Vương. Sau đó, Nam Việt Vương Uý Đà (tức Triệu Đà) đã khởi binh và tấn công An Dương Vương”[32].

Trong đoạn văn này, An Dương Vương được kể là con trai của vua Thục (蜀). Thục, hay Shu trong tiếng Trung,  là tên của một vương quốc cổ từng tồn tại ở khu vực ngày nay là tỉnh Tứ Xuyên. Thục bị xâm lược bởi nhà Tần năm 316 trước Công lịch, xấp xỉ 100 năm trước khi nhà Tần xâm chiếm khu vực Bắc Việt ngày nay, và cũng sớm hơn khá nhiều thời điểm năm 257 trước Công lịch, thời điểm mà Toàn thưkhẳng định rằng An Dương Vương đã đánh bại Hùng vương cuối cùng. Trong các tư liệu Việt Nam, chúng ta cũng có thể thấy cái tên An Dương Vương đôi khi chỉ hoàng tử của Thục vương, đôi khi là vua nước Thục, và đôi khi Thục xuất hiện như là họ. Cụ thể là, có nhiều sự lẫn lộn lịch sử xung quanh nhân vật này, và các học giả khác nhau trong nhiều năm đã cố gắng để truy xem ông là ai. Một số học giả Việt Nam thế kỉ XIX chẳng hạn đã cho rằng ông không thể đến từ nước Thục bởi có những vương quốc nằm giữa [Thục và Văn Lang][33]. Tuy nhiên, ở thập kỉ 1950s, các nhà sử học Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã cho rằng ông đến từ đất Thục[34]. Sau đó ở thập kỉ 1960s, một “tài liệu” mới về nhân vật này xuất hiện.

Năm 1973, một tạp chí Bắc Việt là Nghiên cứu lịch sử công bố bản dịch, do Lã Văn Lô thực hiện, một câu chuyện về người Tày, một tộc nguời nói tiếng Thái ở tỉnh Cao Bằng, có tiêu đề là “Chín chúa tranh vua” (Cẩu chủa chenh vùa). Câu chuyện này liên quan đến các thông tin về An Dương Vương, và khẳng định rằng ông đến từ khu vực giữa Cao Bằng và Quảng Tây, và rằng ở thế kỉ 3 trước Công lịch, ông cầm đầu một liên minh 10 mường gọi là “Nam Cương”[35]. Việc công bố bản dịch này đã thu hút rất nhiều sự quan tâm, và năm 1969, Viện Khảo cổ đã gửi một phái đoàn đi Cao Bằng để điều tra xuất xứ câu chuyện này và để xem liệu họ có thể nhận ra bất kì di tích khảo cổ nào tương ứng với câu chuyện này hay không. Sự tìm tòi những chứng cứ khảo cổ của họ được xác nhận là thất bại, nhưng bản thân sự khảo sát của họ về xuất xứ của câu chuyện “Chín chúa tranh vua” đã tạo ra câu chuyện về chính nó.

Phái đoàn từ viện Khảo cổ nhận thấy rằng câu chuyện này vốn đã được viết ra bởi một ông Lê Đình Sự nào đó, người cũng có biệt danh là Lê Sơn và Lê Bỉnh Sư. Lê Đình Sự là người Tày và đã từng là một giáo viên. Ông bị bệnh hen suyễn nặng đến mức ông phải dành thời gian ở nhà để dưỡng bệnh. Đó là thời điểm ông đã “sưu tầm” nhiều truyện Tày khác nhau và viết thành văn xuôi. Rồi ai đó đã tạo ra phiên bản truyện thơ Tày từ câu chuyện này. Đây có vẻ là câu chuyện mà Lã Văn Lô sau đó đã dịch sang tiếng Việt, tuy nhiên, phái đoàn không thể xác định được chắc chắn vì người sở hữu bản sao mà Lã Văn Lô được cho là đã địch nó đã chết rồi[36].

Theo nghĩa thông thường, vấn đề bản quyền của văn bản rối rắm đến độ làm tổn hại nghiêm trọng đến giá trị của nó với tư cách một tài liệu dành cho việc nghiên cứu lịch sử. Hơn nữa, không có bản gốc Tày để khảo sát, các học giả phải tin vào bản dịch tiếng Việt của Lã Văn Lô, cái mà từ tiêu đề thôi đã có vẻ đáng ngờ. Tiêu đề tiếng Tày, theo Lã Văn Lô, là “Cẩu chủa chenh vùa” hầu như có thể nhận ra từ cái tên được dịch ra tiếng Việt là “Chín chúa tranh vua”. “Cẩu” là từ chỉ “chín” trong nhiều ngôn ngữ Thái, tuy nhiên, phần còn lại đơn thuần là những từ Việt được viết với thanh điệu khác hay đọc chệch đi một chút. Và bất chấp tất cả những vấn đề đó, phái đoàn từ Viện Khảo Cổ vẫn khẳng định rằng câu chuyện đó có hạt nhân sự thật, và rằng có lẽ có những người Tày có chung nguồn gốc với An Dương Vương[37].

Với một sự kết nối giữa người Tày và An Dương Vương do “được thiết lập” bởi phương tiện là câu chuyện “Chín chúa tranh vua”, các nhà sử học sau đó đã sử dụng nhân vật An Dương Vương để củng cố sự lí giải về mặt lịch sử cho mối quan hệ chặt chẽ giữa người Việt và người Thái. Những tư liệu sớm hơn chứa thông tin về An Dương Vương là tài liệu tiếng Trung, và những thông tin chứa trong đó là rất khái lược, chỉ thuần tuý đề cập đến việc ông đã giành được quyền lực[38]. Những nguồn tư liệu Trung Hoa cổ nơi thông tin này xuất hiện, như Sử kí của Tư Mã Thiên vàThuỷ kinh chú của Lịch Đạo Nguyên, cũng chứa nhiều cái tên được đặt cho những tộc người sống ở khu vực ngày nay là Nam Trung Hoa và Bắc Việt Nam. Chẳng hạn, chúng đề cập đến những cái tên như Đông Việt/ Dongyue (東甌), Lạc Việt/Luoyue (駱越), Âu Việt/Ouyue (甌越), Tây Âu/Xi’ou (西甌), Âu Lạc/Ouluo (甌駱), và Tây Âu Lạc/Xi Ouluo (西甌駱). Trong những đoạn trích của chúng viết về An Dương Vương, tuy vậy, những nguồn tư liệu này đơn thuần chỉ đề cập rằng nhóm dân mà ông đánh bại trước khi giành được quyền lực được gọi là Lạc.

Nhiều thé kỉ sau khi thông tin này được ghi chép trong các văn bản Trung Hoa,Toàn thư của Việt Nam cung cấp nhiều chi tiết hơn về An Dương Vương. Nó lưu ý rằng sau khi chinh phục được Hùng vương đời cuối cùng, ông đã lập nên vương quốc có tên Âu Hạc[39]. Khái niệm này, Âu Hạc/Ouhao (甌貉), không xuất hiện trong bất kì tư liệu Trung Hoa nào. Trên thực tế, các tư liệu Trung Hoa không cung cấp một cái tên nào về vương quốc của An Dương Vương. Người Việt ngày nay phiên âm cái tên này thành Âu Lạc hơn là Âu Hạc và lập luận rằng, người Việt viết chữ Lạc khác. Tuy nhiên, vẫn chỉ là trong Toàn thư ở thế kỉ 15 mới xuất hiện cái tên này lần đầu. Vì vậy, có nhiều sự rối rắm xung quanh cái tên được biết đến về vương quốc của An Dương Vương, và nó chỉ xuất hiện trong một tư liệu Việt Nam hơn 1500 năm sau thời điểm được cho là tồn tại vương quốc ấy, và chứa đựng một kí tự [chữ Hạc 貉] không tương ứng với bất kì thông tin lịch sử nào trước đó[40].

Bất chấp tất cả những nghi vấn liên quan đến quốc hiệu của An Dương Vương, các nhà sử học Việt Nam ở nửa sau thế kỉ XX đã gạt ra rìa những vấn đề ấy và diễn giải cái tên này, Âu Hạc/Lạc, thành chỉ dấu cho thấy An Dương Vương đã dựng nên một vương quốc thống nhất 2 bộ tộc, Lạc Việt và Âu Việt hay Tây Âu. Hơn nữa, Lạc Việt được nhận dạng như là những tổ tiên chính của người Việt, trong khi Âu Việt được kết nối chặt chẽ với nhóm sắc tộc Tày, một nhóm ngày nay sống ở vùng biên giới Trung Việt và quan hệ gần gũi với người Tráng[41]. Việc ấn định các nhóm sắc tộc có thực cho những danh xưng cổ xưa này dĩ nhiên là một nỗ lực cực kì có vấn đề[42]. Có lẽ không gì chỉ rõ điều này hơn một thực tế là ngày nay người Tráng ở Trung Quốc cũng cho rằng họ thuộc dòng dõi Lạc Việt cổ, hay Luoyue trong tiếng Trung[43]. Hiển nhiên, người Việt và người Tráng đều không đúng. Tuy nhiên, khi sự tưởng tượng duy ý chí về quá khứ này đi quá xa, sự diễn giải về Âu Hạc/Lạc này bắt đầu xuất hiện trong các văn bản viết về lịch sử Việt Nam cho đến thập kỉ 1980s, và nó ảnh hưởng đến cách nhìn quá khứ của các học giả.

Mô hình văn hóa xã hội lúa nước

Một ví dụ hoàn hảo về điều này là công trình của nhà ngôn ngữ học Phạm Đức Dương. Năm 1982, Phạm Đức Dương viết một vài báo hết sức quan trọng về vai trò của những người nói tiếng Thái trong lịch sử cổ đại Việt Nam mang tên “Cội nguồn mô hình văn hoá – xã hội lúa nước của người Việt qua cứ liệu ngôn ngữ”. Trong bài báo này, Phạm Đức Dương đã khám phá ra rằng có một “cơ cấu” chung về từ vựng được chia sẻ giữa những người ông gọi là Tày Thái và Việt Mường gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước và những thực hành văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị liên quan đến việc canh tác lúa nước. Cụ thể, ông lưu ý rằng nhiều từ trong tiếng Việt có liên quan đến nền nông nghiệp lúa nước đều bắt nguồn từ tiếng Tày Thái. Chẳng hạn, cả hai chia sẻ một từ chung về gạo: gạo/khẩu [BT, khảu], và họ cũng cùng phân biệt giữa hai loại gao: gạo nếp = khẩu dếp (Tày)/khẩu niêu (Thái) [BT, khảu ón] và gạo tẻ = khẩu te (Tày)/khẩu xẻ (Thái) [BT, khảo sẻ][44].

Để trồng lúa nước, người ta phải kiểm soát được nguồn nước cần thiết. Phạm Đức Dương nhận thấy rằng từ Việt Mường liên quan đến vấn đề này như “mương phai” (“irrigation canal”) [BT, mương = irrigation ditch, phai = dam] và guồng (“waterwheel”) [BT, cuống], bắt nguồn từ tiếng Tày Thái. Dựa trên thông tin này, ông cho rằng Việt Mường hẳn đã học tập nền nông nghiệp lúa nước và việc kiểm soát nguồn nước từ người Tày Thái. Ông cũng chỉ ra rằng người Tày Thái đã tạo ra các thực thể chính trị (baan và muang) được tập trung xung quanh việc kiểm soát nguồn nước ở một khu vực xác định, và cho rằng người Việt Mường dường như đã học cách thiết lập quyền kiểm soát chính trị một khu vực từ người Tày Thái, mặc dù không có từ vựng chung nào ủng hộ tuyên bố này[45].

Trong khi Phạm Đức Dương cung cấp được những chứng cứ vững chắc về từ vựng chung giữa người Tày Thái và người Việt Mường liên quan đến nền nông nghiệp lúa nước, những nỗ lực nhằm lí giải bản chất sự tương tác giữa hai nhóm người này trong quá khứ của ông lại có vấn đề nhiều hơn. Nhiều lần ông khẳng định rằng người Việt Mường học nền nông nghiệp lúa nước và các cấu trúc chính trị xã hội của người Tày Thái ở vùng đồi thấp, và rồi sau đó họ di chuyển về phía đồng bằng sông Hồng nơi họ dần dần phát triển bằng nhiều cách khiến cho họ khác với người Tày Thái. Chẳng hạn, với trường hợp gạo, Phạm Đức Dương cho rằng người Việt Mường đã có bước quá độ từ việc ăn gạo dẻo sang ăn gạo tẻ. Không cung cấp bất cứ thông tin nào về thời điểm hay lí do xảy ra việc này, ông khẳng định rằng khi cư dân Việt Mường tăng lên, họ chuyển từ vùng đồi thấp về khu vực đồng bằng và bắt tay trồng lúa tẻ vốn cho sản lượng cao hơn khi mà nó cho phép thu hoạch 2 vụ một năm. Tuy nhiên, sự thực gạo dẻo vẫn được dùng trong một số nghi lễ, ông lập luận, đã gợi ý rằng vào một thời điểm trong quá khứ xa xôi, gạo dẻo là dạng gạo chính mà tổ tiên của người Việt, tức người Việt Mường, đã ăn[46].

Phạm Đức Dương biện luận cho một sự quá độ tương tự của các dạng ruộng được canh tác trong quá khứ. Ông lưu ý rằng có hai loại ruộng dùng để trồng lúa. Tày Thái gọi đồng ruộng để trồng lúa là “na” [BT, ná] và những thửa ruộng trên núi được dùng trồng lúa cạn là “hãy” [BT: hay]. Trong khi đó, người Mường phân biệt giữa việc trồng lúa nước ở “na”, giống như Tày Thái, và “r