Nghiên cứu

Khoa học và văn hóa

Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các hình thức sinh hoạt và lao động của cộng đồng con người. Văn hóa theo nghĩa hẹp thường được hiểu là những hoạt động của con người sau thời gian lao động nhằm phát triển thế giới tinh thần của mình như đi nghe hòa nhạc, thăm viện bảo tàng, đọc sách v…v… Theo nghĩa hẹp ấy đã có lúc người ta xem việc đọc Shakespeare là văn hóa, nhưng hiểu biết định luật thứ hai của Nhiệt động học thì không phải là văn hóa.

Ngày nay, nhiều nghiên cứu triết học về khoa học đã cho thấy khoa học giữ một vị trí trọng yếu trong văn hóa hiểu theo nghĩa rộng: chính ở trong khoa học mà bản chất văn hóa duy lý của con người được thể hiện ra. Trong thế giới hiện đại con người dựa vào khoa học để xây dựng, sản xuất, quản lý và phá hủy, hệ quả là con người đã tạo ra một thế giới khác biệt hẳn với thế giới xưa kia – cái thế giới mà con người đã di chuyển trong đó như một kẻ xa lạ đi khám phá miền đất lạ. Thế giới hiện đại nay ngày càng có nhiều tính nhân tạo hơn và ít tính tự nhiên hơn, dù nó cũng vẫn mong manh như tự nhiên vậy.

Trong ý thức của người bình thường, khoa học gồm có lý thuyết và các phương pháp mà chỉ những người có nhận thức khoa học mới hiểu được. Hoạt động nghiên cứu khoa học được hiểu là do một nhóm ít người trong xã hội – cộng đồng các nhà khoa học – thực hiện. Cộng đồng các nhà khoa học được hình thành ở phương Tây trong một quá trình lịch sử nhiều thế kỷ với một hệ thống giá trị văn hóa đặc thù đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động khoa học. Cộng đồng các nhà khoa học đã không thể có được thành tựu nào, nếu chỉ thuần túy dựa vào lý thuyết và phương pháp không thôi. Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp họ đã hình thành được một hệ thống đạo đức gắn bó chặt chẽ với tính duy lý khoa học: tính bất vụ lợi, tính trung thực, thái độ hoài nghi có tổ chức (cho phép phê phán). Hình thức đạo đức ấy của cộng đồng các nhà khoa học không chỉ là tính duy lý minh triết hay phương tiện phân tầng xã hội mà còn luôn luôn là mẫu mực của nhân cách. Đây cũng chính là ý nghĩa nguyên thủy của khoa học trong lịch sử của tính duy lý phương Tây bắt nguồn từ triết học Hy Lạp. Thuật ngữ “lý thuyết” theo Aristotle hàm ý một định hướng tổng quát cho cuộc sống. Cuộc sống xô bồ trong xã hội hiện đại đôi khi làm lu mờ đi ý nghĩa của lý thuyết như một cách sống. Tách rời khoa học khỏi những gắn kết văn hóa (hiểu theo nghĩa rộng) đem lại thiệt hại cho cả khoa học lẫn văn hóa.

Các xã hội hiện đại nay đã trở nên phụ thuộc vào khoa học ở một mức độ mà mỗi thành tựu mới của khoa học đều có thể đụng chạm tới nền tảng của chúng. Chỉ cần nhắc tới sự xuất hiện và phát triển của mạng thông tin viễn thông cũng đủ chứng minh điều này. Sự phụ thuộc này không chỉ có mặt sáng mà có cả mặt tối của nó. Những biến đổi khí hậu và môi trường gây ra bởi nền sản xuất công nghiệp là một trong nhiều minh chứng. Những người lạc quan hy vọng rằng mọi vấn đề phát sinh ra từ khoa học thì cũng có thể được giải quyết bằng khoa học. Những người bi quan lo âu cho một kết cục bi thảm của sự phát triển đầy phiêu lưu này. Dù sao đi nữa để giải quyết vấn đề cũng không thể nào đơn giản ra một mệnh lệnh kiềm chế khoa học và kỹ thuật. Thế giới thực sự phải đối mặt với tình thế lưỡng nan của sự tiến bộ do khoa học nâng đỡ cùng với những hệ quả của nó. Thật sai lầm nếu cho rằng những vấn đề nảy sinh có thể được giải quyết mà không cần tới khoa học. Sự suy giảm trong nghiên cứu khoa học đang bộc lộ ra có thể sẽ đưa thế giới hiện đại tới trạng thái mất khả năng phản ứng lại một cách đúng đắn.

Không nghi ngờ gì nữa, khoa học trong thế giới hiện đại, dù đã mất đi nhiều hào quang ngưỡng mộ của công chúng, vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đối mặt với những thách thức tương lai. Nước ta nay đang ở trong quá trình hội nhập với thế giới, buộc phải đối mặt không những với những thách thức chung của thời đại, mà còn phải đối mặt với sự lạc hậu trong nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của việc xây dựng nền khoa học quốc gia. Chúng ta đang có nhiều ngộ nhận về khoa học dẫn đến những hành động hồ đồ trong việc xây dựng cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học. Hệ quả là chúng ta có quá nhiều hiện tượng không giống ai khiến dư luận xã hội khá hoang mang.

Nguyên nhân sâu xa là do suốt mấy trăm năm tiếp xúc với văn hóa phương Tây các vị hiền triết của ta đã không nghiên cứu tìm hiểu một cách nghiêm túc để hiểu rõ thực chất của khoa học là gì. Các nho sĩ thời nhà Nguyễn đã chê bai khoa học kỹ thuật phương tây là “dâm xảo” vì “không có ngũ hành tương sinh tương khắc” và như thế thì “trái lý và bất hợp với cổ xưa”. Thời kỳ sau cách mạng, khoa học kỹ thuật được tôn vinh như chìa khoá giúp đất nước mở cánh cửa công nghiệp hoá. Tuy nhiên, xã hội lại chỉ chú ý đến hệ quả thực dụng của khoa học thể hiện trong những ứng dụng công nghệ. Chúng ta đã gửi nhiều sinh viên ra các nước có nền khoa học tiên tiến để đào tạo họ thành các nhà khoa học chuyên nghiệp, nhưng ta lại không nghiên cứu những đặc thù văn hóa của cộng đồng các nhà khoa học để có quy chế thích hợp cho hoạt động nghề nghiệp của họ. Các tổ chức đại học, viện nghiên cứu và các hội nghề nghiệp của ta chỉ có vẻ bề ngoài là giống với các tổ chức có tên gọi tương ứng ở các nước tiên tiến, song về thực chất thì lại khác biệt rất nhiều.

Tình hình hiện nay đòi hỏi phải có một nghiên cứu nghiêm túc nhằm làm sáng tỏ những đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như những đòi hỏi nghiêm khắc các giá trị đạo đức nghề nghiệp mà những người tham gia vào cộng đồng các nhà khoa học nhất thiết phải có. Những bài viết sau đây là một vài tìm hiểu sơ bộ của tác giả với hy vọng giúp các độc giả thấy được đôi nét của quá trình lịch sử phát triển khoa học ở phương Tây để suy ngẫm trong khi đối chiếu với tình hình của nước ta.

GS.TSKH Nguyễn Văn Trọng

Nguồn: Bản tin XHNV