Nghiên cứu

Di sản Jacques Derrida

MICHAEL BEHRENT  HÉLOÏSE LHÉRÉTÉ

 

Jacques Derrida là kẻ vừa hấp dẫn vừa gây khó chịu. Lý thuyết “giải cấu trúc” của ông, qua việc công kích nền tảng lý luận phương Tây, đã được xem như một hành động phê bình cấp tiến. Mười năm sau khi mất, Derrida còn lại gì?

Sắp đến ngày kỷ niệm 10 năm Jacques Derrida qua đời. Ông mất ngày 9 tháng 10 năm 2004. Thật là trùng hợp! Có gì đặc thù hơn, bất khả thế chỗ hơn là cái chết. “Tôi đã chết”:câu nói này đã từng hấp dẫn Derrida. Ông đã phân tích câu này nhiều lần để cuối cùng biến nó thành mộtleitmotif triết học. “Trong mường tượng của tôi về cái chết, có ngầm ý khát khao di ngôn, tức là ý muốn rằng có gì đó sót lại, hoặc được để lại, hoặc được truyền lại – di sản hay thứ gì đó mà tôi không mong đợi, thứ gì đó sẽ không quay lại với tôi nhưng có thể sẽ ở lại”, ông tâm sự như vậy trong một cuộc đối thoại với Philippe Lacoue-Labarthe và Jean-Luc Nancy.

Qua vấn đề về cái chết, một vấn đề khác xuất hiện, vấn đề về sự hiện hữu và sự vắng mặt. Khi gợi về cái chết “của tôi”, tôi quy chiếu tới thứ gì đó đặc biệt nhất đối với tôi, thứ mà không bất cứ ai có thể cảm nhận được thay tôi. Nhưng mà ngôn từ của chính tôi lại phản bội tôi: bởi những ngôn từ đó, cũng như tất cả các ngôn từ khác, đều có thể lặp lại, có thể được chuyển chỗ đến vô cùng, những ngôn từ cùng chủng loại. Mất năm 2004, Derrida viết về cái chết của mình từ những bài viết đầu tiên. Derrida, hay sự vắng mặt của tác giả như là điều kiện cần thiết cho sự viết…

 “Cuộc lưu đày nội địa” 

Lần này, chúng ta hãy bắt đầu lại một cách cổ điển hơn. Derrida, nhà tư tưởng bị ám ảnh bởi mối quan hệ giữa Cái Trong và Cái Ngoài, sinh năm 1930 ở El-Biar, vùng cao nguyên Alger, trong một gia đình Do Thái.Sở dĩ gia đình Derrida là người Pháp là nhờ sắc lệnh Crémieux năm 1870, sắc lệnh này cho phép 35000 người Do Thái ở Algérie được mang quốc tịch Pháp. Trước khi có nghĩa cử đồng hóa đó, Derrida kể rằng “Ông bà cố [của ông] vẫn còn rất gần với người Ả-rập, qua ngôn ngữ và phong tục tập quán, v.v.”[1] Triết gia tương lai không phải tên là Jacques, mà là “Jackie”, theo tên một diễn viên điện ảnh người Mĩ, một người tên là Jackie Googan, người đã sắm vai trong phim The Kid (Thằng Nhóc), nhưng từ đó đến nay đã bị quên lãng.Vào lễ cắt bao quy đầu, Jackie có một cái tên khác: Élie. Bố Jackie, trưởng đại lý bán hàng cho một công ty rượu vang Alger, lo được cho gia đình một cuộc sống theo kiểu tiểu tư sản. Cũng như người đồng hương Albert Camus, cậu bé Jackie rất thích biển, bóng đá và văn chương.

Rồi một cú sốc xảy ra: vào năm 1940, dù không có lính Đức nào đặt chân lên đất Algérie, chế độ Vichy bãi bỏ sắc lệnh Crémieux. Gia đình Derrida, cũng như tất cả những người Do Thái ở Algérie, bị tước quốc tịch Pháp. Khi đó, bắt đầu thời kỳ mà nhà sử học Benjamin Stora gọi là “Cuộc lưu đày nội địa”. Jackie – “Cậu bé Do Thái da đen và rất Ả-Rập”, theo người viết tiểu sử cho ông là Benoît Peeters – phải rời trường trung học. “Vượt qua cả một biện pháp “hành chính” nặc danh (…), ông nhớ lại, vết thương lại là vết thương  khác, nó không bao giờ thành sẹo: trẻ em hàng ngày bị chửi rủa, đó là những bạn học của tôi, những đứa trẻ đường phố, và đôi khi có những người còn hăm dọa và đánh “tên Do Thái bẩn thỉu” là tôi[2].”

Sau chiến tranh, Jackie học chuyên văn trong một trường trung học ở Alger. Ông đam mê Jean-Paul Sartre, thời đó đang cực kỳ nổi tiếng, và quyết định đi Paris để chuẩn bị ôn thi vào Trường Cao đẳng Sư phạm ở Louis-Le-Grand. Năm 1949, lúc 19 tuổi, ông lần đầu tiên đến đất nước hình lục lăng và cảm thấy thất vọng ngay: “Từ Alger, thành phố màu trắng, tôi đến Paris, thành phố màu đen.” Sau ba năm học ôn thi vào Trường Cao đẳng Sư phạm trong điều kiện rất khó khăn, Jackie đã thi đậu, vào năm 1952.

Những năm tháng Derrida trải qua ở Trường Cao đẳng Sư Phạm Paris hẳn là những thời điểm trọng đại nhất trong lịch sử tri thức của trường học này. Trong những năm 1950, đi trong hành lang là tinh hoa của thế hệ trí thức tương lai gần: Michel Foucault, Pierre Bourdieu, Emmanuel Le Roy Ladurie, Jean-Claude Passeron, Gérard Génette, trong số các học giả khác. Louis Althusser, triết gia theo tư tưởng marxiste, sống trong trường và giữ chức “thạc sĩ phụ đạo”, luyện sinh viên triết thi bằng thạc sĩ (agrégation).

Trước khi hình thành thế hệ cấu trúc luận, những trí thức trẻ này có một đam mê trí tuệ khác: hiện tượng luận. Phụ đề cuốn Hữu thể và Hư vô của Sartre là “Tiểu luận bản thể hiện tượng luận”. Triết gia người Đức Edmond Husserl (1859-1938) có vẻ như là thành quả của một sự tất yếu. Sử gia Paul Veyne, người đã qua phố Ulm (học trường CĐSP Paris, ND.) vào thời kỳ này, nhận xét: “Husserl rất khó. Vì thế sinh viên sư phạm phải đọc Husserl.” Họ cũng đọc môn đệ bất trị của ông là Martin Heidegger, ông tổ người Đức của chủ nghĩa hiện sinh, nhưng vì cộng tác với Đức quốc xã nên danh tiếng đã bị ảnh hưởng, cũng như Maurice Merleau-Ponty, người đã đưa hiện tượng luận vào nước Pháp, người mà dân sư phạm Paris thấy “nghiêm túc” hơn Sartre.

Chống lại Husserl

Tại sao hiện tượng học lại thành công như thế? Trong không khí thời hậu chiến, đó là một trường phái rất hấp dẫn, cả về tính thực tế cũng như tính chính xác, chặt chẽ của nó. Thế hệ trí thức này đòi tính thực tế: loại bỏ những cuộc tranh luận trong đó siêu hình học đã sa lầy, Husserl truy vấn kinh nghiệm sống. Đặc biệt, ông đặt ra câu hỏi: thế nào mà thế giới lại có ý nghĩa đối với chúng ta? Nhưng thay vì lý thuyết hóa sự phi lý, hiện tượng học bảo vệ quan điểm cho rằng chúng ta có thể phân tích một cách chính xác, chặt chẽ những gì mà nhận thức, ý thức của chúng ta cảm nhận được, rằng có thể phân tích tỉ mỉ những trạng thái khác nhau qua đó ý thức nắm bắt thế giới.

Cũng như sự chín muồi triết lý của Foucault hay Bourdieu, sự chín muồi triết lý của Derrida sẽ trải qua sự phản kháng Oedip chống lại hiện tượng luận. Ngay những công trình đầu tiên, ông chỉ trích những khái niêm cơ bản của Husserl: nghĩa, hiện hữu, yếu tính… Đặc biệt, ông phản bác tư tưởng cho rằng các hiện tượng được “trao cho” ý thức và nghĩa của chúng hoàn toàn trong suốt. Cốt lõi triết lý của Derrida được hình thành trong ba cuối sách đầu tiên, Tiếng nói và Hiện tượng, Về văn phạm học,Viết và Khác biệt. Triết lý của ông xoay quanh một số vấn đề chính:

◊ Vấn đề đầu tiên: vấn đề về văn viết trong mối tương quan với văn nói, về ký tự trong mối tương quan với tiếng nói. Husserl nghĩ rằng ngôn ngữ cho phép tiếp cận trực tiếp với nghĩa. Ông được xếp vào truyền thống “ngôn tâm luận”, Derrida nhấn mạnh, truyền thống này chủ yếu dựa vào lí tính, logic tính, chú trọng tiếng nói, lời nói sinh động (sinh ngôn, tiếng Hy Lạp là phonè), “tiếng nói của ý thức”, hơn là văn viết. Quả thế, tiếng nói có vẻ như trong suốt hơn, trực tiếp hơn, gần với tư duy và do vậy gần với nghĩa. Còn văn viết bị các triết gia khinh rẻ: so với lời nói, văn viết chỉ là phụ, phái sinh, chết, giả tạo. Derrida muốn lật đổ phương trình này: chứng minh rằng về cơ bản, nghĩa chỉ là sự vụ của sự viết.

◊ Vấn đề thứ hai: quan hệ giữa ký hiệu và nghĩa. Với Husserl, tư duy về ký hiệu phải dựa vào tư duy về hữu thể – bản thể luận. Derrida không thừa nhận phương trình này: với ông, một mặt, chẳng có quan hệ phụ thuộc giữa các ký hiệu, mặt khác, chẳng có mối liên hệ giữa các sự vật và sự hiện hữu. Với cuốn Về văn phạm học – “Khoa học về hành văn” – ông chủ trương lật đổ một cách vừa chi li vừa cơ bản tính logic cho đến thời điểm đó vẫn đang làm nền tảng cho triết học – và qua đó, làm nền tảng cho khoa học nhân văn. Ông chỉ ra rằng ngôn từ không quy chiếu về các phạm trù tư duy (khi tôi đọc “nước”, hình ảnh đến với tôi không phải là một hình ảnh nước cố định và mang tính phổ quát), mà quy chiếu về với những từ khác, bằng cách “trích dẫn” các từ khác (những giọt nước, một cái hồ, một vòi nước đang mở, H2O, v.v.) Chuỗi ngôn từ mở ra một trò chơi bất tận, làm cho văn bản mở ra, vận động. Viết văn không chỉ đơn giản là một văn tự; viết văn tạo ra những “vết tích” giữa các văn tự; viết văn là “siêu vết tích” (định nghĩa này cho phép đưa hết ngôn ngữ vào khái niệm viết văn).

◊ Vấn đề thứ ba, phái sinh từ những vấn đề trên: quy trình của nghĩa. Với Derrida, vấn đề không còn là phải biết thế giới có phi lý hay không (chủ nghĩa hiện sinh) hay thế giới có nghĩa hay không (hiện tượng học), vấn đề là phải hiểu tại sao nghĩa luôn thoát khỏi chúng ta. Vấn đề của nó sẽ có thể được trình bày thế này: làm thế nào để nắm bắt được tính bất khả nắm bắt của nghĩa? Câu trả lời nằm trong một từ duy nhất. Vào năm 1968, Derrida xuất bản tiểu luận có tên Trì biệt (La différance) tức là sự khác biệt (différence) nhưng thay thế chữ “e” bằng chữ “a” [nhưng phát âm vẫn như nhau, ND). Cái được cái mất của từ mới này là gì? Chỉ ra mối quan hệ giữa sự khác nhau (việc trở nên khác đi, dị biệt) và trì hoãn (hoãn lại): trì biệt, đó là sự vận động dị biệt hóa bất thành. Như vậy, đó là động thái cơ bản của nghĩa.

Giữa Saussure và Heidegger

Với từ mới này, Derrida phối kết hai tư tưởng. Thứ nhất, người ta nhận ra ảnh hưởng của Ferdinand de Saussure (1857-1913), nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, khi được phát hiện lại sau chiến tranh, ông góp phần thúc đẩy sự phát triển của cấu trúc luận. Trong một hệ thống ngôn ngữ, mỗi lời nói chỉ thành hình so với hình thái của những lời nói khác. Saussure kết luận: “Trong ngôn ngữ, chỉ có những sự khác biệt (…). Ngôn ngữ không có những ý tưởng hay âm thanh tồn tại trước hệ thống ngôn ngữ, mà chỉ là những sự khác biệt về quan niệm, và những sự khác biệt về ngữ âm xuất phát từ hệ thống này.” Từ đó, Derrida đi đến kết luận rằng không bao giờ có sự hiện diện tự thân, bởi vì nghĩa luôn là chức năng kết nối một từ nào đó với những sự dị biệt hóa của nó với toàn bộ hệ thống ngôn ngữ: nghĩa của nó luôn quy chiếu nơi khác. Đó là điều mà Derrida gọi là “sự dị biệt khoảng cách”.

Nhưng khái niệm trì biệt cũng làm người ta nhớ đến Martin Heidegger (1889-1976). Đối với Heidegger, vấn đề của triết học là vấn đề hữu thể: tại sao lại có cái gì đó, thay vì không có gì hết? Với Heidegger, câu trả lời được đưa ra thông qua một sự phân biệt: một mặt, có tất cả những gì tồn tại, hiện sinh; mặt khác, có sự hiện sinh, có sự thúc động của hữu thể. Hữu thể, người ta có khuynh hướng lơ là bởi vì nó chỉ bộc lộ qua sự tồn tại của các sự vật, cho nên nó luôn ở thế tụt hậu, luôn thoáng vụt, khó nắm bắt. Nghĩa của hữu thể mang tính thời gian: nó luôn thoát khỏi sự nắm bắt của chúng ta chỉ bởi nó luôn được trì hoãn.

Như vậy, sự trì biệt cho phép Derrida khẳng định hai điều: một mặt, nghĩa không bao giờ “tự thân”, nó chỉ tồn tại trong trò chơi dị biệt hóa so với thứ khác, mặt khác, nghĩa luôn luôn vụt trôi, khó nắm bắt, luôn trì trệ. Điều này cho phép chúng ta hiểu nhiều khái niệm khác, nhất là khái niệm giải cấu trúc. Derrida đã từng thường xuyên khẳng định đó không phải là một học thuyết hay một định kiến, đó cũng không phải là một phương pháp. Đó là một từ công cụ mà Derrida đã tạo ra từ Heidegger (lại Heidegger): Trong Hữu thể và Thời gian,Heidegger nhắc đến việc cần thiết phải đả phá (“Destruktion”) siêu hình học phương Tây, đồng thời phải làm cho nó tan rã (“Abbau”).

Một di sản rộng lớn

Từ thời Platon, nền triết học phương Tây dựa vào một hình mẫu duy nhất, Derrida đánh giá: một loạt cặp đối lập nhị nguyên ngầm kiến tạo các diễn ngôn – trong/ngoài, con người/động vật, bản chất/bề ngoài, v.v. Giải cấu trúc phá tan những phạm trù cố định đó bằng cách chỉ ra rằng không có khái niệm nào là đơn nghĩa. Trong các văn bản của các triết gia nổi tiếng, Derrida sẽ chú tâm tra vấn ngữ điệu câu, những khoảng trắng, những từ quên, những tính từ có vẻ bề ngoài vô bổ, những trò chơi ý niệm góp phần tạo nghĩa cho tổng thể, mở rộng những trò chơi đó đến với các nghĩa khả thể khác. Ông còn đi xa hơn: ông tìm cách khám phá phía trong các sự đối lập khái niệm đó những ngôn từ mơ hồ, chúng kháng lại, làm rối rắm những cặp đối lập đó. Chẳng hạn, ở Jean-Jacques Rousseau, khái niệm “phụ trợ” kiến tạo sự đối lập giữa lời nói và văn viết (văn viết được quan niệm như “phần phụ trợ của lời nói”), bằng cách làm cho khái niệm đó trở nên bất ổn (bản thân lời nói cũng vận hành như một phần phụ trợ và vì thế, tính phụ trợ là độc đáo, cơ bản[3][3].Theo cách này, giải cấu trúc các cặp đối lập nhị nguyên đối với Derrida là nỗ lực thoát khỏi ngôn tâm luận phương Tây.

Cuối cùng, giải cấu trúc cho phép phê phán tính logic ám ảnh siêu hình học phương Tây từ thời Platon. Trong một cuộc trao đổi in trong tờ Le Monde một vài ngày sau khi ông mất, Derrida từng cắt nghĩa thế này: “để mô tả một cách ngắn gọn, súc tích về giải cấu trúc, tôi sẽ nói rằng đó là tư tưởng về cội nguồn và về các giới hạn của câu hỏi “cái gì?”. Tư tưởng này nói về tất cả những gì mà câu hỏi “cái gì?” đã bao quát trong lịch sử phương Tây và lịch sử triết học phương Tây, có nghĩa là tất cả mọi thứ, từ Platon đến Heidegger” (Le Monde,  ngày 12 tháng 10 năm 2004).

Như tất cả các nhà tư tưởng người Pháp khác cùng thế hệ – Foucault, Bourdieu, Gilles Deleuze –, ảnh hưởng và di sản của Derrida rất lớn. Ông là một triết gia có tầm ảnh hưởng lớn trong tư tưởng của các triết gia như P. Lacoue-Labarthe, J.‑L. Nancy và Hélène Cixous. Ông là thành viên sáng lập Trường Cao đẳng Triết học quốc tế. Được gắn với trường phái “french theory”, tên tuổi ông nổi tiếng trong các giảng đường ở Mỹ, nơi ông đã từng lưu trú dài hạn (và thường là hàng năm) – ở Yale, Irvine (California) và New York. Các mạng lưới (nghiên cứu) của ông được tổ chức trên toàn cầu: nhiều người, nhất là ở Châu Âu và ở Bắc Mỹ, đã có dịp tham dự cuộc nói chuyện của triết gia này hay trực tiếp đặt câu hỏi cho ông, một người dễ nhận biết qua mái tóc ánh bạc và quần áo hơi điệu đà, kiểu cách. Gắn với khái niệm giải cấu trúc một giọng điệu mang tính chính trị, chủ nghĩa nữ quyền (dựa vào việc Derrida nối kết giữa khái niệm “ngôn trung luận” và “dương vật trung tâm luận”), queer theory (thuyết lệch pha) và postcolonial studies (nghiên cứu hậu thuộc địa) đều vận dụng phương pháp của ông. Đồng thời, ông sẽ là nguồn cảm hứng cho sự đổi mới tư duy thần học, như ở Jean-Luc Marion, học trò của ông hoặc những người theo giáo phái Anh Radical Orthodoxy (chính thống cấp tiến). Nếu như thỉnh thoảng họ có xa rời tư tưởng của ông, Derrida vẫn là một tấm gương sáng cho nhiều tên tuổi triết học đương đại, như Alain Badiou, Giorgio Agamben và Slavoj Zizek.

Trong thế giới anglo-saxon, người ta gặp lại ông ngoài cả các giảng đường đại học: chẳng hạn, nhóm nhạc làn sóng mới của Anh Scritti Politti đã sáng tác, vào năm 1982, một bài hát mang tên Jacques Derrida. Và trong tiểu thuyết Le Roman du mariage (2011), Jeffrey Eugenides phản ánh cả một nền văn hóa thứ cấp (sous-culture) xung quanh Derrida trong các giảng đường đại học Mỹ. Ở ông, vẫn còn lại một hành động, hành động phản nghịch và nổi loạn.

Giờ đây, giải cấu trúc thường được hiểu như thái độ phê phán và công kích, để chỉ ra những mâu thuẫn – hay những “nan giải đề” (aporie), một trong những từ mà Derrida thích nhất – đang âm thầm ảnh hưởng tới những tư tưởng lớn hay những khung khổ tư duy thống trị. Nếu như Derrida không hề bác bỏ bất cứ diễn giải nào, việc nhắc lại kinh nghiệm, thậm chí sự nhạy bén sâu kín là nguồn gốc của tư tưởng này: khám phá ra rằng, vì chúng ta “đang ở” trong ngôn ngữ, chúng ta không thể thoát khỏi nghĩa cũng không thể nắm bắt, làm chủ nghĩa. Rằng chúng ta bao giờ cũng chỉ có nghĩa ở trạng thái mắc nợ. Trong cuốn Bốn bộ tứ, nhà thơ người Anh T.S. Eliot viết: “Ngôn từ căng ra / Tan ra và đôi khi vỡ vụn dưới trọng lực / Trong giằng co, ngôn từ chệch choạc, phiêu diêu, tiêu tán / Thối lên vì thiếu chính xác, không muốn an thân tại chỗ / Chẳng thèm yên lặng, nghỉ ngơi.” Ngôn từ của kẻ khác này (nhưng ngôn từ có bao giờ là ngôn từ “của chúng ta”?) sẽ có thể là di ngôn của một người, đấy chính là Derrida.

Nguyễn Duy Bình dịch


Nguồn: Bản gốc tiếng Pháp: http://www.scienceshumaines.com; bản dịch tiếng Việt:http://vanhoanghean.com.vn