Nghiên cứu

CUỐN SÁCH DÂN TỘC HỌC VỀ GHE THUYỀN VIỆT NAM

Cuốn Voiliers d’Indochine (Thuyền buồm Đông Dương) của J.B. Piétri ra đời vào năm 1943, sau đó được in lại vào năm 1949, cả hai lần đều do Công ty In và Phát hành sách Đông Dương (Société des Imprimeries et Librairies Indochinoises, Saigon) ấn hành một cách trang nhã. Đến nay lại ra mắt bạn đọc với bản dịch của Đỗ Thái Bình, tác giả của nhiều cuốn sách về hàng hải, qua ấn bản của Nhà xuất bản Trẻ (2015), trình bày rất mỹ thuật, chăm chút. Đây là một khảo cứu công phu về thuyền bè dân gian của Việt Nam, Campuchia và cả Nam Trung Quốc.

Piétri là Chánh Nha Ngư nghiệp Đông Dương nên ông có điều kiện đi khắp các xứ Đông Dương, từ Campuchia, Nam Bộ, miền Trung, vịnh Hạ Long cho đến Trạm Giang của tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Ngoài chức trách của một viên chức nhà nước, ông có niềm say mê đến kỳ lạ đối với ghe thuyền dân gian của Việt Nam. Ông tự vẽ bằng bút chì và màu tất cả các con thuyền mà mình tiếp xúc, mô tả chúng đến từng chi tiết tỉ mỉ, có giá trị khảo cứu cao. Bên cạnh đó, với kiến thức sâu rộng về hàng hải, ông đã liên hệ, so sánh thuyền bè Đông Dương với thuyền bè của nhiều dân tộc khác trên thế giới để thấy được nguồn gốc, sự ảnh hưởng qua lại giữa chúng với nhau.

Mở đầu cuốn sách cung cấp cho chúng ta những đặc điểm của thuyền buồm Đông Dương: các loại buồm (buồm mũi, buồm giữa và buồm đuôi), cột buồm, dây nhợ, bộ các rỏ rẻ, bánh lái (bánh lái bản lề thông thường, bánh lái có trục trượt trong sống đuôi thuyền, bánh lái trong giếng), xiếm, neo, xuồng thuyền nhỏ phục vụ, thiết bị hạ thủy, việc xảm trét thuyền, la bàn. Nhiều tên gọi trong số đó ngày nay ít được biết tới.

Tác giả hệ thống lại những đặc điểm chung trong việc đóng thuyền ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Như thuyền ở Phước Hải (Bà Rịa Vũng Tàu nay), Phan Thiết (Bình Thuận), Nha Trang (Khánh Hòa) có thân rất tròn, không có đường bẻ góc tại hông thuyền, nên nhìn chúng có vẻ như kéo dãn ra, dáng loe rộng gần giống với thuyền dhow vùng Hồng Hải và những chiếc xebec ở phía đông Địa Trung Hải. Thuyền Mũi Né (Phan Thiết) đẹp nhất Đông Dương, không quá mảnh khảnh, dạng tuyến hình rất đẹp, hơi chúc về phía trước nhưng vẫn vươn cao hết mức trên mặt biển, đó là đặc điểm chung của những chiếc ghe bầu to lớn của miền Trung. Chiếc sõng vãnh của Quy Nhơn (Bình Định) cầu tạo hoàn toàn bằng tre đan không có ván gỗ cũng giống như nhiều thuyền sông ở Bắc Kỳ.

Đặc sắc ở Bắc Kỳ chỉ có chiếc “lai tan” Móng Cáy, ghe mành của Mũi Ngọc và thuyền Trà Cổ, gần biên giới Trung Quốc. Thuyền tam bản của vịnh Hạ Long lại học từ kiểu đóng thuyền của Bắc Trung Kỳ. Các loại thuyền này có sự kết hợp giữa cách thức chế tác của Việt-Trung.

Một trong những loại thuyền đánh cá có dáng đẹp là chiếc ghe câu Phú Quốc, được biết đến với đoàn thuyền cả trăm chiếc, hoạt động ở khu vực vịnh Thái Lan vào những đêm trắng sáng từ tháng hai đến tháng sáu. Loại thuyền này dùng để đánh bắt một loại mực nhỏ là mực thẻ (thẻ mực tuy cực mà vui). Hoặc vào mùa gió đông bắc thì đi đánh cá cơm để làm nước mắm. Xa hơn, ở các đảo Thổ Chu, Koh Poulo Wai, Nam Du, những chiếc thuyền này đi săn cá ngừ bụng sọc, cá ngữ giả, cá tráp một cách tiện lợi.

Ghe cửa Cửu Long là dòng ghe nổi tiếng, phân bố từ tỉnh Gò Công đến tỉnh Bà Rịa, ra vào các cửa sông và khắp vùng đồng bằng Nam Bộ. Người ta còn bắt gặp chúng trên sông Ông Đốc, Bảy Háp (Cà Mau), vào cuối tháng giêng hay đang buôn bán với những chiếc thuyền mành của người Hoa trong vịnh Thái Lan, đôi khi trợ giúp cho cả bọn buôn lậu. Mũi thuyền rất ấn tượng với sống mũi nhô cao, đi biển tốt. Hai con mắt thuyền có màu đỏ hay đen, đôi khi là màu vàng tươi hay xanh.

Ghe cửa Bà Rịa thì sống mũi ít vút cao so với ghé cửa Gò Công. Tông màu đơn giản, đỏ, viền đen, không có họa tiết âm dương, cho đến nay vẫn giữ những màu truyền thống này. Về ghe lưới rùng Phước Hải- làng biển nổi tiếng nhất của Bà Rịa, Piétri viết:” Sáng nào cũng vậy, cứ khoảng bốn năm giờ, bờ biển Phước Hải đã nhộn nhịp. Những chiếc thuyền nhỏ nằm trên bãi cát được người ta vác trên lưng, được đẩy ra biển và ra khơi. Khoảng 2 giờ chiều, thuyền bè đánh cá trở về. Thế là ghe thuyền trút hết cá đánh được ra và dân chài thực hiện giao kèo hai bên, liên kết với những nhà thầu chuyên chở, chất lên những xe chở hàng đông lạnh tất cả hải sản tươi sống đánh được, cung cấp cho các chợ đầu mối Sài Gòn, Chợ Lớn”. Năm 2015, tôi về vùng biển này thấy phương thức sinh kế cũng không khác bao nhiêu, nó chỉ hiện đại với các phương tiện đánh bắt mới và cuộc sống của làng chài của một bãi ngang xưa (nay đã là đô thị loại 5) sung mậu hơn.

Mũi Né đã trở thành một trung tâm đóng tàu thuyền mà danh tiếng đã vượt ra khỏi biên giới Việt. Những chiếc ghe bầu ở đây được xem là “kiểu mẫu” cho các xưởng ghe ở Hội An (Quảng Nam) và Phổ An (Đức Phổ, Quảng Ngãi). Ghe có đặc điểm là các tấm ván boong rộng tới 40cm, mũi rướn cao về trước. Cùng dạng với ghe mành Quảng Bình, ghe cửa Phú Quốc, ghe bầu Mũi Né có boong phủ toàn bộ điển hình kiểu Việt. Vỏ ghe có đáy lượn tròn và khá phẳng để ủi bãi cho dễ. Tải trọng 120 tấn, dài 30m, rộng 6m, mạn cao 4m, đạt dung tải trên 300 tấn, chở được đến 20.000 tỉn nước mắm. Chúng có mặt ở vịnh Thái Lan, trên kênh rạch sông Cửu Long, ngược lên Phnom Penh và trở lại Việt Nam khi có gió mùa Tây Nam với những con thuyền chất đầy gạo.

Ghe bầu Quảng Ngãi có kết cấu khá độc đáo là dùng nang, tức phên tre đan. Mặt phẳng sườn lớn nhất nằm ngay chính giữa thuyền, mạn luôn được bo hẹp lại khi càng lên cao. Vào tháng chạp, tháng giêng, những con thuyền từ Quảng Nam, Quảng Ngãi chở đầy hàng thủ công địa phương vào Nam và khi ra là các tỉn nước mắm của Phan Thiết, gạo trắng đặc sản của Tây Nam Bộ.

Bè tre có nhiều cây xiếm và chỗ cắm buồm di động là “đặc sản” thuyền bè của Quảng Trị, Hà Tĩnh và Thanh Hóa (hay gọi là mảng). Đây là phương tiện giao thông thủy sơ khai nhất từ xa xưa mà cho đến nay vẫn còn bắt gặp ở vùng ven bờ Đông Dương, Đài Loan, Nam Mỹ với bè “balsa” của Ecuador và Peru. Bè Cửa Tùng (Quảng Trị) ở ven biển mũi Lay chủ yếu là bè nhỏ, một buồm, hai xiếm đặt ngang nhau, phần lớn chạy thuận gió. Từ Cửa Nhượng (Hà Tĩnh) trở đi bè có hai buồm. Từ Sầm Sơn (Thanh Hóa), bè có hai hay ba buồm, cho tới tận cửa sông Hồng, cửa Đáy và cửa Ba Lạt (Quất Lâm và Vạn Lý). Bè được đóng bằng 12 thân cây tre, đường kính 10cm. Tre được uốn cong ngược lên để tạo thành mũi con thuyền hình phẳng. Các cây tre được liên kết với nhau bằng dây mây. Hai cây tre kích thước rất lớn được đặt hai bên mạn để che sóng biển. Buồm vải nhuộm củ nâu màu đất hung đỏ giống màu của buồm trên vịnh Hạ Long.

Cùng với J.Y.Claeys, P. Paris, và đặc biệt qua công trình Thuyền buồm Đông Dương của Piétri, các tác giả này đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu dân tộc học về thuyền bè Việt Nam, bằng các nghiên cứu tỉ mỉ, cụ thể thông qua so sánh, đối chiếu với các loại tàu thuyền trên thế giới, góp phần tìm hiểu về một loại hình văn hóa vật chất của cư dân ven biển còn ít được quan tâm. Bên cạnh đó nó còn chứa đựng một vốn quý về tri thức dân gian như kỹ thuật đóng, vận hành ghe thuyền, kiến thức đi biển...Qua đó khẳng định một truyền thống hàng hải của cha ông ta. Các nghiên cứu này thực sự là nguồn tài liệu quý cho việc hiểu thuyền bè truyền thống mà nhiều năm qua vẫn còn ít các thành tựu ở nước ta. Piétri đã đặt một dấu son qua một công trình khảo cứu hết sức có giá trị, khó vượt qua trong lĩnh vực văn hóa biển ở nước ta.

 

Tác giả:  Nguyễn Thanh Lợi