Nghiên cứu

BIỂN ĐẢO VIỆT NAM TRONG HẢI TRÌNH CHÍ LƯỚC

Người Trung Quốc thời cận đại dùng thuật ngữ văn học du ký để chỉ thể loại văn xuôi và được rất nhiều người viết về các chuyến đi mà sau này ta hay gọi là ký sự. Đặc biệt là xuất hiện từ thời Tống trở đi, mặc dù nó đã manh nha từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, với các ký sự của Trương Khiên đi công sai sang Tây Vực.

Ở nước ta, mảng tác phẩm này chưa được tập hợp, đánh giá đầy đủ, vì nó tồn tại dưới dạng văn bản chép tay, phân tán ở các thư viện Việt Nam và phương Tây. Số được chính tác giả công bố lúc sinh thời hoặc do người thời nay phổ biến qua các bản dịch hãy còn ít ỏi.

Nguyễn Huy Oánh có bài trường thiên nhan đề Phụng sứ Yên đài tổng ca, kể lại chuyến đi sứ Bắc Kinh năm 1765. Ký sự về chuyến đi Pháp của vua Khải Định có Ngự giá như Tây ký của Nguyễn Cao Tiêu, Nội các xuất bản năm 1922. Vãng Tân nhật ký là tập sứ trình bằng văn xuôi, đề tên Nguyễn Thuật (thật ra do Phạm Thận Duật chấp bút), Trần Kinh Hòa công bố và chú giải năm 1980, viết về chuyến Nguyễn Thuật đi sứ Trung Quốc lần thứ hai (1883).

Như Tây sứ trình nhật ký (Tây phù nhật ký) của Phạm Phú Thứ, do Nguyễn Đình Hòe, Ngô Đình Diệm, Trần Xuân Toản dịch, 1919, nhan đề là “L’Ambassade de Phan Thanh Giản (1863-1864)”. Lãn Ông Lê Hữu Trác có Thượng kinh ký sự, do Phan Võ dịch (Hà Nội, 1959, tái bản 1979), do Bùi Hạnh Cẩn (Hà Nội, 1977), Nguyễn Trần Huân dịch sang tiếng Pháp (Paris, 1972).

Năm 1954, Maurice Durant có kê danh mục những bản chép đang lưu trữ ở Thư viện Viện Viễn Đông Bác Cổ về những ký sự của những sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc, tất cả gồm 21 đầu sách. Riêng các phúc trình của các sứ đoàn nhà Nguyễn xuống Miền Dưới (Hạ Châu) chưa được thống kê và cũng ít được giới sử học quan tâm. Hiếm hoi có Lộ trình đi Xiêm La (Thái Lan) năm 1810 của Dương Văn Châu và Tống Phước Ngoạn, do Trần Kinh Hòa công bố năm 1966.

Cadière và Pelliot ngay từ năm 1904 đã giới thiệu tập ký sự của Phan Huy Chú, về chuyến công du Batavia. Nhưng vì thời gian công tác ở Huế quá ngắn, nên Pelliot đã không kịp thẩm định giá trị tập sách này. Dần dần nó rơi vào quên lãng, chỉ còn tồn tại dưới dạng bản sao ở phần 2 trong một tập sách mang tên chung là Bản quốc hải trình hợp thái. Năm 1962, nhà thư mục học Trần Văn Giáp đã “tái phát hiện” ra nó khi ông đưa nó vào trong bộ sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm:”Sách này làm giữa hồi tác giả được cử đi hiệu lực sang Nam Dương (Inđônêxia) năm 1832. Khi đi đường, tác giả lược ghi tên các xứ, các đảo mà thuyền sứ giả đi qua, xuất phát từ đảo Đại Chiêm (tỉnh Quảng Nam) vượt biển đến Giang Lưu Ba (Jakarta). Thuyền đi qua đâu, tác giả ghi chép rõ ràng những điều tai nghe mắt thấy, sơ lược về kinh tế, chính trị, phong tục, cổ tích...”.[1]

Năm 1830, Phan Huy Chú được cử làm Phó sứ thứ hai sang nhà Thanh, cùng với Chánh sứ Hoàng Hữu Đản. Nhiệm vụ của sứ bộ được vua Minh Mạng giao là, ngoài nhiệm vụ ngoại giao, thì tìm mua những sách về thơ cổ, họa cổ và nhất là sách riêng của các nhà vì có quan hệ đến nhà Thanh nên không dám in. Nhưng sứ bộ lại không mua được sách và cũng không tìm hiểu được tình hình nhà Thanh, mà mua nhiều hàng hóa cho riêng mình, bắt phu vận chuyển tốn kém. Năm 1832, Chánh sứ Hoàng Hữu Đản bị phạt 100 trượng, đày khổ sai ở Trấn Hải Đài. Hai phó sứ là Trương Hảo Hợp và Phan Huy Chú đều bị cách chức, phải làm việc để chuộc tội. Cuối năm 1832, Phan Huy Chú, Hoàng Văn Đản, Trương Hảo Hợp được cử đi công cán ở Giang Lưu Ba (Kelapa/Batavia) để “hiệu lực” tức cố gắng chuộc tội.

Bắt đầu hành trình từ Đà Nẵng, Phan Huy Chú ghi:”Đảo Đại Chiêm ở Quảng Nam là một ngọn núi tiêu chí thứ nhất của hải trình tục gọi là Cù lao Chàm. Đảo này cách cửa tấn ước hơn một canh đi bằng thuyền. Trên đảo có phường Tân Hợp, cư dân khá trù mật. Trên núi có nhiều yến sào. Triều trước đặt đội Hoàng Sa để lấy tổ yến. Một xóm dân ở chiếm riêng cõi mây nước sóng gió này. Đây cũng là một nơi thắng cảnh. Từ Đà Nẵng vượt biển một ngày đêm mới tới đây. Trông xa chỉ thấy núi non xanh thẫm. Qua chỗ này, vượt qua các đảo Hòn Nam, Bàn Than đến cửa Tiểu Áp. Ngoài là Tiểu Man mới hết vùng biển Quảng Nam. Gần cửa tấn Thái Cần của Quảng Ngãi có đảo tục gọi là Cù lao Lý, nó là tiêu chí ngoài biển của tỉnh thành này. Trên đảo cây cỏ um tùm, đất đai bằng phẳng. Hai ấp An Vĩnh và An Hải, dân cư nộp thuế dầu lạc. Sinh sống nơi mặt nước chân mây, phong tục chất phác, cổ sơ như người thời Vô Hoài, Cát Thiên vậy. Thuyền đi qua đây, trời đã xế chiều, nhìn xa chỉ thấy khói mây và sóng cả nhấp nhô giữa đảo xanh biếc tưởng như bãi biển. So với Đại Chiêm, cảnh trí ở đây đẹp hơn. Từ đây trở vào bốn cửa tấn Sa Kỳ, Cổ Lũy, Mỹ Á, Sa Huỳnh không có cảnh sắc ấy”.[2]

Những ghi chép sát thực của Phan Huy Chú cho thấy ông rất am hiểu cảnh vật của Quảng Nam, Quảng Ngãi về địa dư, văn hóa và bằng cả tấm lòng yêu quê hương đất nước, dù không phải đó là nơi chốn mình sinh ra.  Với vài nét phác họa, đất và người Lý Sơn đã hiện rõ một cách tài tình qua cái nhìn đầy thiện cảm của ông. Lý thú hơn, khi Phan Huy Chú có cái nhìn so sánh cảnh trí của các địa phương trên hải trình mình đi qua với những nhận xét tinh tế.

Đến vùng đất võ Bình Định, ông mô tả khi đi qua đây:”Cửa tấn của Bình Định không có đảo. Trên bờ biển của cửa này, ở nhà kho của nhà nước (quan thương) thì núi chạy bao quanh. Từ  khe nước đi (thuyền) độ hơn một canh mới tới tấn sở. Chỉ thấy một dải thôn xóm xen lẫn cồn cát và bến bãi mà thôi. Năm trước (1829), Chú này đã vâng mệnh phát bán thóc gạo qua đây, đã từng từ nhà kho (quan thương) dưới chân núi, đi thuyền theo khe nước đến cửa biển. Nay qua đây nhìn lại, thấy cảnh sắc còn hình dung ra được. Qua Thời Phú tới cửa tấn Đề Di. Từ ngoài biển (thấy) một ngọn núi truyền gọi là núi Vọng Phu. Câu truyện thực hư ngày xưa diệu vợi khó biết.

Qua đây, đến cửa Thị Nại cuối địa giới, núi non quanh co, thuyền bè san sát, đó là cảng khẩu lớn. Hơn 30 năm trước, Tây Sơn chiếm cứ bởi vì đất này là bến ra vào của chiến tranh.

Từ ngày quốc triều bình định, trời đất yên, sóng biển lặng, khí yêu ma biến mất. Nay nhìn xa ngoài biển chỉ thấy độ ba bốn chiếc thuyền buôn đi lại giữa vách đá và sóng nước. Cảnh sắc thanh bình thật đáng vui thích. Ông Âu Dương nói:”Thấy cảnh núi cao nước trong thì biết rằng thiên hạ thái bình đã lâu”. Câu ấy có thể dùng để nói về cửa biển này chăng?”.[3]

Nhớ lại kỷ niệm xưa, nơi ông đã từng công cán qua đây. Tác giả cũng cho biết đó là vùng đất của chiến trường, nơi đụng đầu của những thế lực trong lịch sử nhưng nay thì “cảnh sắc thanh bình”. Truyền thuyết Hòn Vọng Phu như tô điểm thêm nét đẹp văn hóa của vùng đất, gắn với những số phận đau thương trong quá khứ.

Phú Yên trong con mắt của nhà đi sứ, đó là:”Cửa tấn Vũng Lấm của Phú Yên, bốn bên núi vây quanh, có một cảng cho thuyền đi qua. Trong cửa tấn rộng như cái đầm lớn. Trên bờ, nhà cửa vườn cây liên tiếp trù mật. Cảnh sắc cũng đẹp như ngoài cửa tấn, nhiều núi, mỗi khi gió nổi lên thì sóng to cuồn cuộn, làm người ta kinh sợ. Thuyền ghé vào đây một ngày, nửa đêm đi ra biển, vừa gặp gió bấc nổi mạnh...

Núi Thạch Bi dựng đứng ở bờ biển, gần với núi Đèo Cả là địa giới cuối cùng Phú Yên. Đó là nơi triều Lê trước đã khắc đá. Khi vua Thánh Tông (1460-1497) đi đánh Chiêm Thành, bắt được chúa của họ là Trà Toàn rồi khải hoàn. Bèn lấy đất ấy đặt làm Quảng Nam thừa tuyên, khắc bia đá trên bờ biển làm mốc giới. Thời Hồng Đức (1470-1497) thịnh vượng, cương giới đến đây. Từ núi này ra ngoài coi như vùng đất hoang bỏ đi...”.[4]

Không chỉ cảnh sắc đẹp, mà Phú Yên còn là vùng đất địa đầu với những trang sử oai hùng trong cuộc Nam tiến của Lê Thánh Tông, đã để lại nhiều cảm xúc khi Phan Huy Chú qua đây với “cột mốc” núi Đá Bia.

Đến vùng biển Khánh Hòa, ngòi bút tác giả hướng về: “Vùng biển Bình Hòa, thuyền đi theo hướng chính bắc gặp gió thổi chỉ trong nửa ngày, lại đi nửa ngày đêm đến Vị Nê của Bình Thuận. Xét từ đỉnh Đèo Cả là địa đầu của Bình Hòa, đi bộ qua 18 trạm mới tới Thuận Đông của Bình Thuận, tục gọi là Ba Động Kim Sa, ở gần cửa tấn Vị Nê. Nhưng thuận gió, giương buồm theo đường thủy, không hết một ngày đã qua nghìn dặm. Chỉ ngày hôm ấy, thuyền đi nhanh nhất, qua các núi Cù Huân, Thạch Bích đều chỉ nhìn lướt, nước chảy như tên bắn, thuyền đi như bay...”.[5]

Thuận Đông là một trạm dịch trên đường dịch trạm qua Bình Thuận. Phía tây có 3 động cát lớn gọi là Ba Động Kim Sa. 18 trạm dịch, gồm 10 trên đất Bình Hòa (Khánh Hòa): Phú Hòa, Hòa Mã, Hòa Lãng, Hòa Hoàng, Hòa Mỹ, Hòa Cát, Hòa Thịnh, Hòa Tân, Hòa Du, Hòa Quân; và 8 trạm trên đất Bình Thuận: Thuận Lai, Thuận Mai, Thuận Trinh, Thuận Nương, Thuận Hảo, Thuận Võng, Thuận Phú, Thuận Đông.

Cù Huân là tên núi và cửa biển ở vũng Nha Trang. Cửa Cù Huân gồm 2 cửa ở phía bắc mà Đồng Khánh địa dư chí lược chép là Cù Huân tiểu tấn khẩu. Núi Cù Huân ở phía bắc cửa lớn.

Thạch Bích hay múi Đá Vách ở phía nam cửa vào vịnh Cam Ranh. Bản đồ Taberd (1838) có địa danh mũi Đá Vách. Bản đồ Minh Mạng 19 (1838) có ghi cửa Cù Huân, chữ “Cù” chép nhầm thành “Xà”; mũi Thạch Bích: chép nhầm chữ “Bích” có nghĩa là biếc.

Một cung đường lướt qua nhanh chóng nên không để lại nhiều ấn tượng cho tác giả về miền thùy dương xinh đẹp này.

Bình Thuận trù phú được tác giả nhắc đến:”Cửa tấn Vị Nê của Bình Thuận dân cư trù mật, tôm cá nhiều. Thuyền biển đi qua đây thường đỗ tạm lại để mua sắm thực phẩm. Từ đây đi qua các vùng biển Kê Khê, Ma Ly, La Di, nhân tiện đi thẳng tới Côn Lôn không qua hướng đông qua cửa Cần Hải của Gia Định. Bên cạnh cửa tấn Vị Nê có một dãy núi đâm ngang tục gọi là Mũi Nê. Ngoài ra đều là các cồn cát, nhìn thấy sáng lấp lánh”.

Vị Nê hay Mũi Né ở phía nam Phan Thiết. Phía đông có Hòn Lao, phía tây là vũng biển thuyền bè thường ghé đậu tránh gió bão.

Kê Khê là một hòn đảo nhỏ đối diện với mũi Kê Gà (Kê Chủy), ở phía nam Phan Thiết. Bản đồ Đồng Khánh địa dư chí lược ghi rõ vị trí đảo Kê Khê (Kê Khê dự). Bản đồ Minh Mạng 19 chỉ ghi Kê Chũy (mũi Kê Gà). Đối chiếu với bản đồ có thể xác định đảo Kê Khê là Hòn Bà (khác với Hòn Bà ở gần cửa La Di), còn gọi là đảo Thiên Y) ở trước mũi Kê Gà. Đảo Kê Khê cùng mũi Kê Gà liền với khối núi cao 700m là một tiêu chí đường biển.

Ma Ly và La Di là 2 cửa biển do sông Ma Ly và La Di đổ ra cửa biển. Theo Thông quốc diên hải chử, Bình Thuận có 12 cửa biển từ bắc vào nam, Ma Ly là cửa thứ 10 và La Di là cửa thứ 11. Trên các bản đồ hiện nay, La Di viết là La Gi.

Xứ mắm cá này người đông đúc, là điểm giao thương sầm uất, cũng nổi tiếng với dòng ghe bầu Mũi Né, điểm trú bão tốt trên hải hành.

Đảo Côn Lôn và cửa Cần Hải đối nhau. Đảo ấy là nơi làm tiêu chí cho các thuyền đi lại ở biển Nam định hướng. Nghe nói nơi ấy xóm làng trù mật, dân cư đông đúc. Núi có nhiều yến sào. Phong cảnh thật là đẹp. Xưa nay đã đặt thủ ngự ở đó để tuần phòng mặt biển. Gần đấy có thuyền bè đi lại. Đó là một nơi quan yếu. Lần này thuyền đi từ Vị Nê thẳng ra ngoài biển đi xa cách Côn Lôn nên ban đêm vượt qua mà không biết. Sáng ra thấy đàn chim bay lượn vòng tròn mấy vòng, rồi bay về hướng đông. Trời rộng, chim mất hút, bấy giờ biết đảo này đã cách xa. Đường biển xa vời, không thể quay lại nhìn được nữa. Vì vậy trong lòng vừa tiếc lại vừa buồn”.

Cửa Cần Hải chính là cửa Cần Giờ thuộc huyện Phước Lộc, tỉnh Gia Định (TP. Hồ Chí Minh nay)-một danh thắng từng được khắc trên Cửu Đỉnh (Huế) dưới thời Minh Mạng.

Một chút tiếc nuối của Phan Huy Chú khi đoàn thuyền sứ vượt qua đảo Côn Lôn (Côn Đảo) vào ban đêm mà không có dịp chiêm ngưỡng cảnh vật nơi đây, một quần đảo có vị trí chiến lược.

Những ghi chép về biển đảo của nước nhà chỉ chiếm một phần nhỏ trong tác phẩm Hải trình chí lược của Phan Huy Chú, nhưng cho thấy cảm hứng chủ đạo vẫn là niềm tự hào, lòng yêu quê hương đất nước, ý thức về chủ quyền dân tộc. Nó như một lời tự tình đầy lạc quan với non sông gấm vóc. Tác phẩm này cần phổ biến rộng rãi để mỗi con dân nước Việt thêm yêu mến biển đảo của mình hơn.

Tác giả: Nguyễn Thanh Lợi

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Trần Văn Giáp (1984), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập I, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  2. Phan Huy Chú (1994), Hải trình chí lược, Phan Huy Lê, Tạ Trọng Hiệp dịch và giới thiệu, Cahier d’Archipel 25.
  3. Phạm Quang Ái (2013), Những ghi chép về biển đảo Tổ quốc trong tác phẩm Hải trình chí lược của Phan Huy Chú, Khoa học xã hội & nhân văn Nghệ An, số 6, 2013.

 

 

[1] Trần Văn Giáp (1984), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập I, Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr.372-373.

[2] Phan Huy Chú (1994), Hải trình chí lược, Phan Huy Lê, Tạ Trọng Hiệp dịch và giới thiệu, Cahier d’Archipel 25, p.141-142.

[3] Phan Huy Chú (1994), Sđd, p.144-145.

[4] Phan Huy Chú (1994), Sđd, p.145-147.

[5] Phan Huy Chú (1994), Sđd, p.147.