Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai – NGUYỄN ĐỨC LỘC[Phần một]

Hố Nai – vùng đất mà những người bạn không theo Công giáo của tôi cho là “vùng đất thánh”, với ý chỉ đến những cộng đồng Công giáo mộ đạo, đôi khi là bảo thủ trong việc thực hành các lễ nghi Công giáo. Từ nhận định của những người không Công giáo tôi đi tìm câu trả lời trong các cuộc điền dã dài ngày tại đây. Bài viết này là kết quả của quá trình đó, đặc biệt bài viết sẽ không đi sâu vào những vấn đề giáo lý trong kinh thánh hay những văn bản tín lý, mà tìm hiểu thực hành tôn giáo tín ngưỡng trong cuộc sống tâm linh của người dân. Tôn giáo tín ngưỡng được nghiên cứu trong bối cảnh văn hoá, chính trị, xã hội, của một cộng đồng địa phương cụ thể.

Với quan điểm đặc thù luận lịch sử, bài viết sẽ quan tâm đến những hệ giá trị trong nghi lễ người Công giáo ở Hố Nai hiện nay. Bởi sự nhận thức về những hệ giá trị Công giáo Việt Nam trong đời sống tinh thần của tín đồ ở đây là sự tồn tại song hành giữa hệ giá trị Công giáo và hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam. Hai khối văn hoá siêu hữu cơ (superorganic) này dường như có thể hành động, tương tác với nhau. Tuy nhiên, tiếp cận góc độ này bản thân tôi cũng nhận thấy những mặt hạn chế từ quan niệm xem văn hóa bị vật thể hóa để trở thành những thực thể siêu hữu cơ của Alfred Kroeber, người học trò đầu tiên của  Franz Boas. Điều này đã bị chính Boas và đồng nghiệp phê bình và bản thân Kroeber đã có những hiệu chỉnh phù hợp (Eriksen và Nielsen, 2001: 65). Chính vì vậy, trong bài viết này tôi cũng sẽ xem xét nghi lễ dưới góc độ không chỉ là thực hành tôn giáo mang tính đặc thù luận lịch sử mà thông qua nghi lễ con người diễn lại niềm tin tôn giáo của mình. Qua đó nhìn nhận nghi lễ cũng là nơi để những người làm lễ và tham dự lễ thể hiện ý tưởng xã hội của mình trong việc thực hành nghi lễ. Một khía cạnh nào đó, nghi lễ đã được quy chuẩn thành những giai đoạn trong một tiến trình (Van Gennep, 1960). Hay một khía cạnh khác, nghi lễ cũng có thể được xem như là sự trình diễn. Quan điểm này đã được Victor Turner (bản dịch tiếng Việt, 2006: 243) đề cập trong bài viết Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu:

Tôi nhìn nhận những cuộc trình diễn nghi lễ như là những giai đoạn riêng biệt của quá trình xã hội mà  qua đó các nhóm người điều chỉnh để phù hợp với những thay đổi bên trong và thích ứng với môi trường bên ngoài. Từ cách nhìn này, biểu tượng nghi lễ trở thành một thành tố trong hành động xã hội, một sức mạnh tích cực trong một phạm vi xã hội. Biểu tượng luôn gắn liền mật thiết với những quyền lợi, mục đích, ý nghĩa, phương tiện của con người cho dù những cái này hiện hữu rõ ràng hay phải luận ra từ những hành vi quan sát được.”

Những biểu tượng mà Turner nói đến trong bài nghiên cứu bao gồm những sự vật, hành động, các mối quan hệ, hiện tượng, cử chỉ và những đơn vị không gian trong một tình huống nghi lễ. Cũng ở góc độ này, Yuan Tongkai thừa nhận mình xuất phát từ gợi ý của Geertz (1973) khi xem “việc thể hiện trong các nghi lễ của người Mulao có thể coi là sự trình diễn” trong bài viết Nghi lễ như là sự trình diễn – lấy nghi lễ đám ma của người Mulao làm ví dụ (Tongkai, 2007: 57). . Theo gương này, bài viết sẽ quan tâm nhiều đến hậu cảnh của những nghi lễ. Bởi khi nhìn nhận nghi lễ như là sự trình diễn, đặc biệt là đối với các nghi lễ của Công giáo vốn đã được thống nhất về chuẩn mực với những thủ tục được hành chánh hóa trong toàn giáo hội, nếu như chúng ta không quan tâm đến hậu cảnh của những nghi lễ với những sự bàn bạc, thỏa hiệp, linh hoạt khôn khéo…của người giáo dân để làm sao vừa thực hành đúng quy chuẩn của lễ nghi vừa phù hợp bối cảnh kinh tế xã hội ở địa phương thì chúng ta sẽ không thấy rõ được những động thái biến đổi của nghi lễ Công giáo tại các địa phương cụ thể. Chính vì thế, tìm hiểu về nghi lễ không thể chỉ quan tâm đến tiến trình của nghi lễ diễn ra như thế nào? Cấu trúc nghi lễ ra sao? Mà nghiên cứu nghi lễ phải đặt trong bối cảnh kinh tế xã hội của địa phương, ở đó người ta thể hiện vai trò, vị thế xã hội và hành động xã hội.

Sơ lược bối cảnh kinh tế – xã hội vùng Công giáo di cư 1954 tại Hố Nai

Hố Nai là một vùng đất tập trung đông tín đồ Công giáo di dân năm 1954, cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 40 km về hướng tây. Cộng đồng giáo dân ở Hố Nai chủ yếu gốc đồng bằng Bắc bộ, rất giỏi nghề nông nên khi vào vùng đất Hố Nai họ đã nhanh chóng khai hoang lập nương, lập rẫy. Đặc biệt khu vực Hố Nai có địa hình nhiều đồi thấp và thung lũng. Chính vì thế họ đã tìm đến các thung lũng, bìa suối để làm ruộng, canh tác. Họ cứ khai khẩn tới đâu thì trồng trọt tới đó. Chủ yếu là trồng lúa nước và rau quả. Họ khai khẩn tuỳ theo sức của mình và khi hộ gia đình nào khai khẩn xong và trồng trọt thì vùng đất đó đương nhiên thuộc quyền sở hữu của họ. Đa số các cư dân ban đầu tới đây đều làm nghề nông, họ khai khẩn lấy đất vừa để ở, vừa trồng trọt. Các công cụ lao động của họ chủ yếu là các công cụ thô sơ như cuốc, xẻng, và dùng sức trâu bò để cày bừa và vận chuyển.

Ngòai ra, một trong những ngành nghề chính tại cộng đồng ở Hố Nai là nghề mộc. Trước năm 1975, cộng đồng Hố Nai mở rộng phát triển ngành lâm sản và nông nghiệp, tạo những cơ sở cần thiết để phát triển kinh tế. Các công tác đắp đường, xây cầu, dẫn thủy vào khu vực rừng và ruộng rẫy (chẳng hạn khu phát triển vô nhiễm) đã mở rộng khu vực hoạt động lâm sản và nông nghiệp. Ngành gỗ là một ngành hoạt động chính của Hố Nai. Bấy giờ,  Hố Nai có khoản 100 trại cưa và 100 xe be, nhiều tiệm mộc chuyên sản xuất các sản phẩm về gỗ để cung ứng cho các thị trường láng giềng (Võ Tự Do, 1974).

Tuy nhiên, nghề nông ngày nay đang từng bước mai một sau giai đoạn Việt Nam đổi mới theo nền kinh tế thị trường. Các hộ gia đình bỏ đất, bỏ ruộng để chuyển sang nghề buôn bán và họ cũng rất thành công trong việc buôn bán bởi họ vốn sẵn quen với nền kinh tế thị trường trước năm 1975 tại miền Nam. Còn một số bộ phận thì bỏ đất, bỏ ruộng đi làm công nhân tại các khu công nghiệp, một vài bộ phận giới trẻ cũng có xu hướng di cư đến thành phố Hồ Chí Minh để học tập và lập nghiệp.

Ngày nay, Hố Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giữa huyện Trảng Bom và thành phố Biên Hòa, thuộc tỉnh Đồng Nai, vốn được xem là một trung tâm kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật lớn của Đông Nam bộ. Đồng Nai cũng được xem là nơi có nhiều khu công nghiệp tập trung lớn nhất toàn quốc, có điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, có sức hút đầu tư từ bên ngoài và có điều kiện phát triển mạnh mẽ cả 3 khu vực: Công nghiệp-Dịch vụ-Nông nghiệp. Chính địa vực trọng yếu như vậy, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng với những tác động đáng kể về kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân Hố Nai.

Những biến đổi về kinh tế xã hội của địa phương cũng tác động ít nhiều đến đời sống tâm linh của người giáo dân ở đây. Trong đó, có sự xuất hiện của những cư dân nơi khác đến cư trú tại vùng Hố Nai và một vài bộ phận dân chúng lại di cứ đến các tỉnh thành lân cận để mưu sinh, những vẫn giữ mối liên hệ gắn bó với cộng đồng địa phương.

 PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc – ĐH KHXH&NV TP.HCM

 

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie