Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai [Phần cuối]

Xem thêm: 

Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai – NGUYỄN ĐỨC LỘC[Phần một]

Nghi lễ kép trong hôn nhân – Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai [Phần hai]

Tang lễ Công giáo – những nghi lễ kép – Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh hoạt trong đời sống đạo ở vùng Công giáo Hố Nai, Đồng Nai [Phần ba]

Sống đạo và hậu cảnh của những nghi lễ

Trong suốt quá trình sinh sống trong cộng đồng, tôi cảm nhận một trong những điều làm cho những người giáo dân Hố Nai cảm thấy tự hào về đời sống tinh thần của mình là lòng mộ đạo, nhất là đối với những người lớn tuổi. Họ tuân giữ những chuẩn mực của lễ nghi một cách khắc khe. Đến nỗi một vị linh mục phụ trách một giáo xứ ở Hố Nai nhận định về đời sống đạo của giáo dân nơi đây “trước đây bà con mình quan niệm theo đạo là giữ đạo, bây giờ có chuyển biến tích cực là sống đạo. Giữ ở đây là cầm lấy, nắm lấy vì vậy kinh sách nhiều lắm, còn sống là đưa lời chúa vào đời sống của mình…”[1].

Điều ấn tượng mạnh mẽ đối với bản thân tôi khi tìm hiểu cộng đồng này là đời sống đạo của họ với những câu chuyện liên quan đến các hình thức “phạt vạ” dành cho những ai không tuân thủ đúng chuẩn mực lễ nghi trong cộng đồng Công giáo Hố Nai. Nhưng thật ra theo cách tôi cảm nhận, những câu chuyện được họ bàn tán, thường là những tuyên cáo của cha xứ[2] dành cho những ai không hội đủ những điều kiện để được lãnh nhận các phép bí tích, đặc biệt là hôn lễ và tang ma. Họ đã kể rành mạch cho tôi biết con ông bà nào, ở xóm nào? bị cha xứ phạt đi sơn cửa nhà thờ vì không thuộc kinh rồi mới cho phép làm đám cưới, hay cảnh báo những đối tượng nghiện ngập ma túy, khi chết không được chôn trong đất thánh.

Trong đời sống hàng ngày, người Công giáo Hố Nai rất lo ngại khi bị cha xứ “rao” ở nhà thờ về bản thân hay những người thân trong gia đình. Những lời nhắc nhở của linh mục tại nhà thờ chắc chắn bị phát tán với những lời bàn luận chung quanh vấn đề mà vị linh mục đã đề cập. Còn những gia đình bị nhắc tới trong lời nhắc nhở của linh mục lại tỏ vẻ xấu hổ, đôi khi trách móc cha xứ của mình nhưng những lần khác khi gặp cha xứ của mình, họ lại tỏ vẻ sợ sệt “dạ, vâng”.

Khoa, một thanh niên trí thức nhà ở Hố Nai nhưng có công việc tại Sài Gòn đã bình luận về hiệu ứng thông tin cộng đồng với cái nhìn so sánh với Sài Gòn:

Thật ra điều kiện sống mỗi nơi mỗi khác, ở Sài Gòn nhà nào biết nhà đó, chứ còn ở Hố Nai cách nhau 3 cây số người ta còn biết. Đó là một áp lực rất lớn đối với các thành viên trong cộng đồng (nhật ký điền dã, tháng 3 năm 2008).

Khoa cũng đã kể cho tôi nghe chuyện anh ta đã phải đối phó với cha xứ thế nào khi xin thủ tục đám cưới tại xứ đạo mình. Mặc dù Khoa đã học và được cấp giấy chứng nhận giáo lý hôn nhân tại một xứ đạo tại Sài Gòn, theo quy định bình thường của các giáo xứ tại Sài Gòn hay các tỉnh thành lân cận là hội đủ tiêu chuẩn, nhưng khi về lại giáo xứ của mình thì Khoa còn phải “trả nợ” những phần giáo lý của giáo xứ. Khoa tỏ ra bức xúc với những qui định này, nhưng ngay sau đó là thể hiện sự phục tùng một cách “khôn khéo” đối với vị cha xứ của mình.

Thật ra, mỗi nơi mỗi khác, mình lấy vợ ở Sài Gòn, do đi làm ăn xa đến khi lấy vợ mình cứ nghĩ cũng theo chuẩn đó. Nhưng khi về lại xứ, cha mở “sổ thiên tào” ra  bảo còn thiếu bốn cuốn giáo lý, phải học thi, trong khi đã đặt tiệc rồi. Đó là áp lực phải linh hoạt. Mình trình bày đã từng là giáo lý viên, đi làm ăn xa, tiệc tùng đã đặt xin cha giảm. Sau đó cha giảm cho còn 2 cuốn.

Mình biết mình cần, gấp nhưng không thể chống ổng được… thực tế đứng trước quyền lực như vậy mình phải lái họ theo ý mình. Đối với mình, cọp trước mặt cũng chẳng sợ nhưng trong tình thế đó mình phải tỏ ra sợ, để ổng thông cảm cho mình thi giấy. Thế là mình chọn đúng giờ lễ tới xin thi, ổng cho đề sau đó để lại một mình thi.. (cười) Hôm đó mình có thủ hai cuốn giáo lý trong áo gió “quay bài” mới qua được. Thật ra làm như vậy là sai tín lý nhưng tình huống như thế mình cũng phải linh hoạt. Nhưng mà mình biết có trường hợp linh hoạt hơn, nó không thuộc giáo lý, nó cứ ì ra đó, cuối cùng cha xứ cũng cho nó cưới đấy thôi (nhật ký điền dã, tháng 3 năm 2008).

Như thế, có thể thấy các vị linh mục ở đây đã dùng nghi lễ như là quyền lực để chế tài giáo dân với mục đích giáo dục việc nào đó. Từ những quan sát thực tế, tôi có cảm nhận các mỗi vị linh mục có biện pháp chế tài riêng, điều quan trọng mỗi vị quan tâm đến cái gì thì chế tài cái đó.

Đặc biệt, đối với Hôn lễ, một trong những điều họ quan tâm không phải nghi lễ nó diễn ra như thế nào? Bởi trước đó, hai người nam nữ chuẩn bị làm lễ cưới tại nhà thờ là phải học các lời tuyên hứa, tập dợt các cách thức đi lại trong nhà thờ sao cho đúng quy định. Điều này cũng phản ánh phần nào quan điểm nhìn nhận xem nghi lễ như là sự trình diễn, khi hậu cảnh của nghi lễ là sự tập dợt nhiều lần cho nhuần nhiễn trước khi vào nghi lễ chính thức. Điều quan trọng đối với cộng đồng Công giáo Hố Nai là nghi lễ đó diễn ra ở đâu? Điều này còn là sự thể hiện danh dự và vị thế của gia đình. Đối với những người hội đủ các tiêu chuẩn, thủ tục lễ nghi Công giáo thì hôn lễ sẽ diễn ra một cách trang trọng tại giữa gian cung thánh đường của nhà thờ.  Ngược lại, hai người nam nữ đã chung sống với nhau trước khi diễn ra nghi lễ hôn phối tại nhà thờ thì bị xem như “ngăn trở” và hôn lễ không được tổ chức trang trọng giữa gian cung thánh đường mà chỉ tổ chức tại một gian phòng riêng không có sự chứng kiến của cộng đồng, mà người dân ở đây gọi nghi thức này là “phép giao”. Mặc dù giá trị và tiến trình của “phép giao” cũng giống như nghi lễ hôn phối nhưng hễ ai bị linh mục phạt vạ phải làm phép giao lại là sự tủi hổ của gia đình đối với cộng đồng.

Như vậy, nghi lễ không chỉ giải tỏa những nhu cầu tâm linh mà còn đáp ứng nhu cầu vị thế xã hội của cá nhân trong cộng đồng. Chính những chuẩn mực được quy định nghiêm ngặt của nghi lễ cũng góp phần củng cố quyền lực cá nhân hay của một nhóm xã hội mà trong trường hợp Hố Nai là quyền lực gia trưởng của linh mục, khi người giáo dân xưng hô với linh mục là cha – con. Mặt khác người dân đã biết tỏ ra linh hoạt ứng phó với những quy định này nhằm vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh nhưng đồng thời cũng thể hiện vị thế xã hội trong cộng đồng. Điều này cũng tương tự như trong nghi lễ tang ma của người Công giáo ở Hố Nai mà tôi ghi nhận trong suốt quá trình điền dã. Theo quan niệm của người Công giáo khi con người chết là chết đi cho tội lỗi nguyên thủy mà tổ tông đã phạm khi ăn quả trái cấm và sẽ được sống lại vào ngày tận thế nhờ sự cứu chuộc của Chúa Jesu. Từ quan niệm như thế, khi người ta chết đi là khi họ thực sự trở về với Chúa. Như vậy, một khía cạnh nào đó, cái chết là sự bình đẳng đối mọi người trước Chúa. Nghi lễ đưa tiễn người chết về nơi an nghỉ cuối cùng của người Công giáo cũng được soạn sẵn theo sách mục vụ dành chung cho tất cả mọi người. Nhưng nhìn nghi lễ từ hậu cảnh kinh tế, xã hội, chúng ta sẽ thấy tang lễ không chỉ đơn giản là nghi lễ tiễn đưa người chết về thế giới bên kia mà còn là lúc để cho những người còn sống thể hiện vị thế xã hội. Trong phần lớn các xã hội, ý nghĩa “của việc phô trương và các nghi thức quan trọng” tại một đám ma phụ thuộc giàu có và tầm quan trọng của người chết (Tunner, 1969:8). Ở Hố Nai, những gia đình giàu có có người qua đời, đám ma đó thường được phô trương bởi những dàn kèn tây, kèn ta nhạc tấu suốt ngày đêm, xen kẽn những giờ nguyện kinh. Đoàn người đưa tiễn phải dài, nhiều nhạc đoàn đến phục vụ đưa tiễn. Điều đó chứng tỏ mối quan hệ và vị thế xã hội của người chết hoặc gia đình người chết quan trọng trong cộng đồng. Còn những gia đình có người đi tu làm linh mục, tu sĩ…thì thánh lễ được nhiều linh mục tới đồng tế, cầu nguyện cho người mới qua đời cũng tăng uy thế cho gia đình nhà đám. Chính vì thế, đối với người dân Hố Nai việc có con đi tu là niềm vinh hạnh lớn cho gia đình và dòng họ.

Tương tự như hôn lễ, trong một đám tang, điều quan trọng không phải cấu trúc nghi lễ nó diễn ra như thế nào mà điều quan trọng di hài người qua đời được đặt ở đâu trong nhà thờ. Nếu như một ai đó khi còn sống không có nhiều đóng góp cho nhà thờ hoặc vi phạm luật buộc gì của giáo hội mà bị án phạt vạ thường quan tài đặt ngoài hành lang nhà thờ và phần huyệt chôn cất cũng nằm xa khu vực lễ đài trong khu đất thánh. Chính vì thế, có một điều thú vị khi những người giáo dân luôn sẵn sàng đóng góp tiền của cho việc xây dựng giáo xứ để được chứng nhận là ân nhân giáo xứ, để khi chết đi được chôn cất ở vị trí tốt và được mọi người trong giáo xứ tưởng nhớ và cầu nguyện.

Những vị ân nhân khi chết có nhu cầu đưa về chôn cất trong giáo xứ thì phải xem thành phần như thế nào? phải xem cuộc đời họ đóng góp cho xứ tương xứng với việc chôn vị trí nào, thì phải có những cuộc họp hội đồng giáo xứ  (Ông K, thành viên hội đồng giáo xứ Lai Ổn, Hố Nai, tháng 3/2007)

Theo ông K, những người giáo dân trong xứ thì không phải đóng góp các khoản nào để có phần đất chôn cất nhưng những người nơi khác muốn được chôn cất trong nghĩa trang của giáo xứ thì người đó phải là ân nhân và có khoản đóng góp vào công việc xây dựng giáo xứ.

Cách đây 7-8 năm,  giáo xứ cũng ra một quy chế đối với nhiều trường hợp người ở nơi khác, vì thế có nghĩa cử giúp đỡ họ rồi lo cho họ chỉ có mất 2 triệu đồng với phần huyệt giáo xứ đã làm sẵn …..Còn những người nơi khác tới muốn xin nhập xứ để hưởng mọi quyền lợi như các giáo dân khác phài đóng góp một khoản tiền tương đương 15 thùng lúa  (Ông K, thành viên hội đồng giáo xứ Lai Ổn, Hố Nai, tháng 3/2007).

Tuy nhiên, trong một cuộc trò chuyện với một vị trong hội đồng trong giáo xứ Lai Ổn này trong dịp tháng 4/2007 thì vị này cho biết:

Cho đến hiện nay tôi cũng đang mong muốn là lúc nào đó giáo xứ họp lại để bàn về những quy định, hạn mức được chôn cất trong nghĩa trang giáo xứ. Tại vì thời buổi này đã khác rồi! nó khác ở chỗ là tất cả các nghĩa trang các thành phố (Sài Gòn), các thị trấn hầu như họ ngưng cho chôn mà phải thiêu xác. Cho nên có nhiều người con thương cha mẹ, thiêu cha mẹ người ta đau lòng nên muốn xin vào đây và nó sẽ trở thành quá tải lúc trước cách đây 7-8 năm chưa có vấn đề gì nhưng giờ đâm ra quá tải. Vì vậy, đối với những người giàu có thì phải khác chứ?

Như vậy, vị trí chôn cất trong nghĩa trang của những người đã mất có vẻ như sự sao chụp không gian cư trú của người sống. Có những vị trí mặt tiền dành cho những người có vị thế, có những nơi nằm xa trung tâm. Cái chết và nghi lễ không đơn thuần diễn tả sự tiễn đưa linh hồn về thế giới bên kia mà là sự phản ánh bổi cảnh kinh tế, văn hóa, chính trị của một cộng đồng.

Tóm lại, nếu xem nghi lễ như là sự trình diễn thì nhà nghiên cứu nhân học tôn giáo cũng cần quan tâm đến hậu cảnh của nghi lễ để thấy được bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội. Hậu cảnh của những nghi lễ trong đời sống của tín đồ Công giáo Hố Nai giúp chúng ta thấy những động thái biến đổi không ngừng trong nhận thức và cảm nhận nghi lễ trong đời sống tâm linh của họ. Giống như Geertz, Turner trong sự nhận thức sâu sắc của mình coi các nghi lễ là phản ánh tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hơn là các yếu tố môi trường tự nhiên mà họ sinh sống. Điều này cũng đã được Yuan Tongkai củng cố hơn trong các luận điểm của mình khi viết về Nghi lễ như là sự trình diễn – lấy nghi lễ đám ma của người Mulao làm ví dụ: “Đây là một quá trình hàn gắn sự lộn xộn và sắp xếp lại mối quan hệ xã hội” (Tongkai, 2007: 55).

PGS.TS. Nguyễn Đức Lộc – ĐH KHXH&NV TP.HCM


 

Chú thích

[1] Tư liệu điền dã của tác giả năm 2002.

[2] Cách gọi linh mục phổ biến tại các vùng Công giáo.

 

Tài liệu tham khảo

Võ Tự Do. 1974, Công cuộc phát triển cộng đồng  tại Hố Nai (1971-1974). Luận văn tốt nghiệp đại học, trường Quốc gia hành chánh.

Geertz, Clifford. 1973. “Thick Description: Toward an Interpretative Theory of Culture.” [mô tả sâu: hướng tới một lý thuyết diễn giải văn hóa]. Trong The Interpretation of Cultures [diễn giải văn hóa]. New York: Basic Books, Inc. Publisher.

Nguyễn Đức Lộc. 2007. Tìm hiểu đời sống văn hóa người Việt Công giáo Hố Nai. Luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tp.HCM.

Tongkai, Yuan. 2007. “Nghi lễ như là sự trình diễn – lấy nghi lễ đám ma của người Mulao làm ví dụ”. Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr. 50 – 61.

Tunner, Victor. 1967. “Biểu tượng trong nghi lễ của người Ndembu” (bản  dịch tiếng  Việt). Trong Hội Khoa học Lịch sử (2006) Những vấn đề nhân học tôn giáo. Đà Nẵng: Tạp chí Xưa và nay và  Nxb. Đà Nẵng.

Tunner, Victor. 1969. The Ritual Process: Structure and Anti-structure [Quy trình nghi lễ: cấu trúc và phản cấu trúc]. Chicago: Aldine Publishing Company.

Van Gennep, Amold. 1960. The Rites of Passage [Các nghi lễ chuyển tiếp]. Translated by Monika B. and Gabrielle L. Caffee. Chicago: The University Press of Chicago

 

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie