Kinh tế hàng hóa và những biểu tượng văn hóa bị rỗng

Văn hóa luôn chuyển động chứ không đứng yên, những biểu hiện, ý nghĩa của một hành vi văn hóa luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu và định hướng phát triển của cộng đồng. Có những thay đổi dần dần mà trong đó, nhiều đường nét văn hóa được thay đổi hài hòa, uyển chuyển; ngược lại, có những thay đổi quá nhanh, quá đột ngột đến nỗi những thành viên của cộng đồng đôi khi cảm thấy hụt hẫng, hay theo cách gọi của TS. Nguyễn Đức Lộc – “bị rỗng”. Khai trí Nhân văn xin trích đăng lại bài viết đầy đủ về “Kinh tế hàng hóa và những biểu tượng văn hóa bị rỗng” của TS.Nguyễn Đức Lộc nhằm bàn thêm về vấn đề này. Bài viết đã được đăng trên báo Thế giới tiếp Thị, ngày 08/04/2015.

 

Lâu nay chúng ta thường nghĩ những gì được xem là chuẩn mực, giá trị, biểu tượng văn hóa thì rất khó thay đổi. Tuy nhiên, khi quan sát thực tế cuộc sống xung quanh ta hiện nay, tôi không khỏi băn khoăn khi cảm nhận có nhiều thứ biểu tượng văn hóa đang bị thay thế nội dung hay nói đúng hơn là biểu tượng văn hóa bị rỗng bởi sự tác động ghê gớm của kinh tế hàng hóa. Tôi xin kể vài câu chuyện lượm lặt từ các cuộc điền dã về những thay đổi trong đời sống xã hội chúng ta.

Cách đây vài năm, trong một dịp đi điền dã tại một vùng quê nghèo của tỉnh Quảng Ngãi, tôi được một gia đình nông dân đón tiếp và cho cư ngụ trong nhà vài hôm. Từ đây tôi có dịp quan sát và trò chuyện với người dân về các nghi thức ứng xử trong cuộc sống. Có một lần khi tôi đang dùng bữa cơm trưa với người cha trong gia đình thì cậu con trai học lớp 12 về khoanh tay chào tôi rất lễ phép, nhưng người cha vẫn nhắc nhở con rằng phải chào tôi bằng thầy vì tôi là thầy giáo từ một trường đại học về đây nghiên cứu. Trong nhận thức của ông hình ảnh thầy giáo là một biểu tượng văn hóa và người thầy được kính trọng trong xã hội. Ông cũng chia sẽ cách nghĩ của người dân quê ông rằng tuy nghèo nhưng việc giáo dục con cái cái là hàng đầu. Cha mẹ phải biết làm gương và phải luôn làm việc gì đó để “lưu phước” cho con.

Ông kể cho tôi nghe cách thức những người phụ nữ quê bán hàng rau, củ quả ở chợ quê rằng. “Việc buôn bán là để kiếm lợi, nhưng người dân quê tôi khi bán một bó rau, thường cho thêm vài cọng hành, quả ớt, trái chanh. Cái đó cũng giống như mình làm để lưu cái phước lại cho con cái”. Xét dưới góc độ biểu tượng văn hóa thì hành vi này giống như là một nghi thức, thực hành văn hóa mà nó phản ánh độ sâu văn hóa của người dân.

Tôi khá ấn tượng với câu chuyện của người đàn ông này kể cho tôi nghe, chính vì vậy khi về tới Sài Gòn, tôi thường lưu tâm việc này trong việc quan sát cuộc sống người dân. Bởi vậy, có một lần đi chợ Thị Nghè để mua một bó rau về nấu canh. Người bán rau hỏi lại tôi có muốn lấy thêm vài cọng hành ngò không? Tôi như mừng thầm trong bụng vì một nghi thức văn hóa vẫn còn lưu giữ trong dân gian, nhưng ngay sau đó tôi cảm nhận mọi thứ không như mình nghĩ, những cọng hành ngỏ được tính thành tiền và gộp chung với bó rau thành tiền gần gấp đôi giá trị bó rau ban đầu. Tôi tự an ủi mình rằng đó người ta kinh doanh mà phải vậy thôi, nhưng vẫn một chút gì tiếc nuối khi các nghi thức ứng xử vẫn còn nhưng ý nghĩa biểu trưng hình như nó đã bị rỗng hay nói cách khác là nó đã thay thế bằng một ý nghĩa khác.

Điều này cũng tương tự như khi tôi đi thực địa ở Tây Nguyên, trong ký ức về rừng của người dân tộc bản địa, rừng lung linh, đẹp đẽ như thể họ đã từng sống trong thế giới thần tiên. Họ kể cho tôi nghe khi rừng Tây Nguyên còn nhiều, cuộc sống của họ không phải lo nghĩ gì? Họ bước ra khỏi cửa nhà giống như mở cánh cửa tủ lạnh với một kho dữ trữ thực phẩm sinh thái, xuống suối bắt cá, lên rừng săn thú, hái rau rừng. Vào những mùa nhàn rỗi, cả gia đình vào rừng “cắm trại” sống giữa rừng nghe chim hót, nghe vượn kêu như thể họ đang sống trong một xứ sở thần tiên. Để giữ cho không gian sống tốt đẹp của mình, người dân đã có những luật tục, các nghi thức văn hóa để bảo tổn sự toàn vẹn của không gian.

Họ cũng kể cho tôi nghe về một loai cây trong rừng là cây Tơm Vlang. Một loại cây mang ý nghĩa tâm linh của người M’Nông. Chúng được trồng khi có sự kiện tâm linh của của gia đình, cộng đồng và khi chúng mọc lên  không ai được chặt ngoài chủ nhân của chúng. Nếu ai vô tình chặt cây sẽ bị phạt cúng Trâu. Vì theo quan niệm của người M’nông chúng gắn chặt với linh hồn của họ nhưng mặt khác cây này có khả năng sống lâu đời, có bộ rễ sâu và lan rộng nên có khả năng giữ đất và giữ nguồn mạch nước ngầm. Tôi liên tưởng đến hình ảnh cây mẹ trong bộ phim Avatar khi cây mẹ chết đi thì hệ sinh thái xung quanh cũng không còn sự sống.

Mọi ký ức về rừng trong tâm trí họ đẹp đẽ và đầy tiếc nuối, có những cụ bà khi tôi hỏi chuyện một vấn đề khác, nhưng những câu trả lời của bà cứ một mạch nói về rừng một cách say sưa. Trong một lần trò chuyện với những người đàn ông lớn tuổi trong bon, tôi hỏi từ bao giờ cuộc sống người dân thay đổi, từ bao giờ rừng không còn như xưa? Một chút trầm ngâm đầy suy tư, người đàn ông trung niên nói tiếng Việt khá rành rẽ trả lời tôi một cách đầy bất ngờ: “từ khi có cây mì”. Ông không trả lời theo kiểu oán trách, đổ lỗi cho người Kinh lên làm thay đổi cuộc sống của họ. Ông kể: “trước đây chúng tôi phát rẫy làm lúa rẫy, trồng trọt, bao giờ đất bạc màu lại đi phát rẫy tiếp”. Nhưng từ khi có người Kinh mang cây mì lên trồng, họ mua lại đất để trồng mì, trồng khoai với số lượng lớn. Người dân tộc chúng tôi đi phát rẫy để bán, người ta cũng mua gỗ, đám thanh niên cũng vào rừng chặt cây để bán. Mọi thứ thay đổi một cách nhanh chóng. Tôi còn nhớ lúc đấy già làng có họp dân nhắc nhở nhưng mọi thứ đều không cưỡng lại được. Mọi thứ đau sót lắm, người dân tộc chúng tôi khi nhấc ché rượu cần để uống đểu có ý nghĩa của nó chứ không phải thích thì uống, nhưng giờ thì mọi thứ khác rồi.

Kinh tế hàng hóa len lõi vào trong cuộc sống và mọi thứ đều được qui đổi thành tiền. Vì vậy, những nghi thức, giá trị biểu tượng văn hóa có vẻ như được thay thế bằng những giá trị hàng hóa, tiền bạc. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu nhân học, xã hội học từng cảnh báo về nền kinh tế hàng hóa và vấn đề đạo đức. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm kinh tế đạo đức phê phán hình thức kinh tế hàng hóa và sự tàn phá văn hóa, xã hội của loại hình kinh tế này.

Nếu cộng đồng xã hội không bảo vệ những giá trị văn hóa, biểu tượng hóa các nghi thức ứng xử mà để mọi thứ trôi theo dòng qui luật của kinh tế thị trường hoang dã khi mọi thứ có thể qui về giá trị hàng hóa, tiền bạc mà không quan tâm đến các giá trị văn hóa, tâm linh thì các chức năng, cấu trúc xã hội bị tàn phá là điều khó tránh khỏi.

Chúng ta bàn rất nhiều về khái niệm kinh tế thị trường, nhưng những diễn ngôn tốt đẹp về hệ thống kinh tế thị trường của chúng ta dường như chỉ nằm gọn trong các văn bản nghị quyết trong khi thực tiễn đời sống xã hội đang phô diễn cho mọi người thấy một xã hội với loại hình kinh tế hàng hóa tự nhiên, ở đó nó tồn tại theo qui luật bản năng tự nhiên, “cá lớn nuối cá bé”. Mọi thứ không tuân theo qui luật điều tiết nào cả ngoài qui luật mạnh được yếu thua thì những giá trị văn hóa đẹp đẽ, mong manh sẽ dễ dàng tan vỡ. Những biểu tượng văn hóa sẽ bị rỗng bởi sự tác động của kinh tế hàng hóa là vậy.

Nguyễn Đức Lộc

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie