Dòng họ và liên minh hôn nhân – Biến đổi xã hội của người Cơho-Cil ở Lâm Đồng (Phần 2) – Phạm Thanh Thôi

Cấu trúc Bon(làng) – Biến đổi xã hội của người Cơho-Cil ở Lâm Đồng (Phần 1) – Phạm Thanh Thôi

Cấu trúc thân tôc và dòng ho ̣ người Cil thể hiện chủ yếu qua thuật ngữ Mpôl – có nghĩa là dòng họ.  Dòng họ bao gồm những người tự nhân là concháu của một vị tổ tiên chung theo dòng mẹ (kể cả con nuôi đã được các thành viên trong dòng họ làm chứng). Những thành viên cùng mpôl được tính theo dòng mẹ. Những người con gái được thừa kế và quản lý tài sản trong gia đình. Người đàn ông theo vợ về dòng họ khác, với dòng họ sinh ra mình họ đóng vai trò là “cậu” (kồn), có nhiệm vụ giúp các chị em gái hoặc chamẹ nếucòn sống quản lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến gia đình, đặc biệt là các vấn đề phân chia tài sản và quan hệ hôn nhân.

1
Phả hệ được kế thừa theo dòng mẹ, các cá nhân được coi là anh em, chị em được xét trực hệ từ dòng mẹ. Theo đó, con của cậu (con của anh, em trai ruột của mẹ) thuộc về dòng họ khác, con gái cậu (con của anh em trai) có thể kết hôn với con trai của cô (con của chị, em gái). Đáng chú ý, người Cil xem những người thuộc họ hàng (jơi pơtiang) được tính cả những người bên cha và bên mẹ, khác với những người thuộc cùng mpôl (cùng dòng họ).
Trong xã hội người Cil, thông qua các nghi lễ của vòng đời người và của cộng đồng (rất ít), các thành viên từ thế hệ này qua thế hệ khác xác nhận ai thuộc cùng mpôl (hay khác). Mỗi mpôl đều có một tên gọi khác nhau (có khoảng 20 tên mpôl, tương ứng với khoảng 20 dòng họ). Nguyên tắc ngoại hôn mpôl được trở thành luật tục cổ truyền.
Đáng chú ý, từ xưa đến nay, dù bị phân tán sinh sống ở các khu rừng thuộc các huyện khác nhau, nhưng phần lớn người Cil đều biết ai (gia đình nào) là những người thuộc dòng họ của mình. Cho dù những người đàn ông trong dòng họ (kồn) kết hôn về dòng họ khác ở xa bon, nhưng quan hệ hôn nhân con cô-con cậu cũng được kết nối và phổ biến.
Lịch sử và đặc điểm về quan hê ̣giữa các mpôl trong và giữa các bon của người Cil được hiển thị rất rõ nét qua quan hệ hôn nhân. Trong các bon của người Cil, khi nó i đến mpôl, ngườ i ta biết là những mpôl nào là gốc , mpôl nào do các biến cố dẫn đến sự chia tách (phân li) rồ i lấy tên mpôl mớ i. Họ biết những mpôl nào có mâu thuẫn với nhau dân đêń cấm con cái không kết hôn với nhau.

Nguyên tắc những ngườ i cù ng môt mpôl (dur mpôl) không đươc kết hôn vớ i nhau, nếu nảy sinh quan hệ tình dục coi đó là loạn luân. Và cũng có những dòng họ khác nhau, nhưng các thành viên vẫn không được kết hôn với nhau từ nhiều năm qua do những biến cố trong đời sống đã tồn tại những mâu thuẫn, hoặc theo cổ truyền, những người thuộc dòng họ đó nếu kết hôn với nhau trước sau cũng gặp nạn hoặc làm ăn không được8.

 

Quá trình điền dã tại các bon của người Cil ở Lâm Đồng kể từ năm 2004 đến nay, tôi và TS. HONDA
Mamoru (trường đại học TOYO, Nhật Bản) đã vẽ nên sơ đồ về quan hệ giữa các dòng họ qua hôn nhân như sau (xem sơ đồ biểu thị các dòng họ người Cil được và không được kết hôn).

1
Ở sơ đồ trên, với những thanh viên thuộc một dòng họ sẽ không được kết hôn với nhau, dù sống ở các căn nhà và các bon cách nhau, thậm chí ít có quan hệ xã hội thường xuyên với nhau. Có những dòng họ khác nhau (như Kon Sa và Bong Dong, .v.v xem sơ đồ) nhưng vẫn duy trì việc cấm các thành viên không được kết hôn do những kiên kị nhằm trách các tai họa trong đời sống mà người Cil qua nhiều thế hệ đã trải nghiệm và truyền lại.
Trước khi vào ấp chiến lược, tình yêu qua sự tìm hiểu nhau trước của con cái thường ít diễn ra và ít có giá trị trong phần lớn các quyết định chọn người kết hôn. Nguyên tắc chọn người kết hôn cho con cái, thường dựa trên một số tiêu chí khác dòng họ, con cô-con cậu và cách trao đổi tài sản của nhà trai, nhà gái khi đám cưới. Vai trò quyết định chọn người kết hôn thuộc cha, mẹ và anh chị, em của mẹ. Cha mẹ của con cái thường dựa trên mối quan hệ hôn nhân của các thế hệ trước giữa các dòng họ để đi “xin hỏi” (bên gái) hoặc “ép buộc” (bên trai) con cái mình lấy. Theo đó, một liên minh hôn nhân giữa các dòng họ ở trong bon hay ở các bon gần kề đã được thiết lập qua nhiều thế hệ.

Xem Sơ đồ biểu thị sự liên minh hôn nhân của các dòng họ người Cil cho thấy:
ngườ i đàn ông củ a dò ng ho ̣ LM lấy đươc con gaí củ a dò ng ho ̣ KJ; người đàn ông của dòng họ KJ lấy đươc con gái củ a dò ng ho ̣ DG; người đàn ông của dòng họ DG lấy đươc con gái của dòng họ LM,.v.v Mô hình liên minh hôn nhân của một số dòng họ này không đúng cho tất cả các bon. Nhưng với mỗi bon các thành viên trong dòng họ thường có xu hướng chọn kết hôn với người thuộc một số dòng họ nào đó, một số dòng họ khác thì cấm kị.

1
Liên minh hôn nhân giữa các dòng họ của người Cil hiển thị nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội. Khi kết hôn, luật tục duy trì bên nhà cô dâu phải chuẩn bị tài sản để đưa cho cha mẹ và những người trong dòng họ của chú rể. Đối với người Cil, khi con trai đám cưới và về sống ở nhà vợ, đó là dịp quan trọng nhất để người trong gia đình và dòng họ đưa ra yêu cầu bên nhà gái cho tài sản (như đòn la, ché, tô, vải, vòng cườm, trâu, bò..). Đây cũng là cách để nhà trai có thêm phần tài sản, chuẩn bị cho nhà bên trai nếu con gái của họ kết hôn. Với mô hình liên minh hôn nhân giữa 2-3 dòng họ trong bon, tài sản của các dòng họ này sẽ được chạy vòng tròn và ít khi phải thất thoát ra bên ngoài.
Trong bon, các mối liên hệ giữa những cư dân trong bon hay ngoài bon, đều tùy thuộc vào lịch sử quan hệ giữa các mpôl.
Các mpôl ngoài việc đã kết nghĩa cùng chung sống với nhau trong một bon, họ còn có quan hệ với nhau chính từ các cuộc hôn nhân. Khi đàn ông của mpôl (A) được đàn bà của mpôl (B) cưới về, họ đương nhiên trở thành viên trong gia đình của mpôl (B). Tuy nhiên, quan hệ ở cấp độ hôn nhân ấy chưa dừng lại ở đó. Khi con gái của Cậu thuộc mpôl B (theo dòng mẹ), người Cậu này (mang mpôl A) sẽ quay về xin hỏi cưới con trai của chị em gái bên dòng họ mình (mpôl A). Loại hình hôn nhân con gái của anh em trai (con cậu) kết hôn với con trai của chị em gái (con cô) rất phổ biến trong xã hội người Cil.

1
Khi vào ấp chiến lược, đặc biệt khi người Cil đã tin Chúa, tình yêu là sức mạnh mà Chúa đem đến cho con người. Tình yêu làm hạn chế sự ép buộc của những người trong gia đình và dòng họ đối với việc chọn người kết hôn của nam/nữ thanh niên. Hơn thế, quá trình người Cil đến sống cận kề với các bon khác và các dân tộc khác. Việc lựa chọn người kết hôn đã diễn ra chủ yếu trên nền tảng tôn giáo và những tác động phức tạp trong điều kiện kinh tế, dân số gia tăng, nhu cầu sử dụng đất v.v. Theo đó, dù nguyên tắc hôn nhân “ép buộc”, hôn nhân “con cô-con cậu” vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay ở nhiều dòng họ, nhiều bon, nhưng có thể nói được rằng: những tác động từ sau khi vào ấp chiến lược là bước ngoặc trong sự biến đổi nguyên tắc liên minh hôn nhân giữa các dòng họ của người Cil ở Lâm Đồng.
Liên minh hôn nhân giữa các dòng họ thay đổi, theo đó, các cuộc hôn nhân anh em trai lấy chị em gái của “con cô – con cậu” cũng giảm tại một số bon. Nhiều gia đình, giải pháp chỉ cần một người con kết hôn với “con cô-con cậu” là đủ! Các anh em trai hay chị em gái còn lại, tùy thích, có thể chọn kết hôn với các mpôl khác mà ít bị phản đối, ngoại trừ các trường hợp khác như hai gia đình (mpôl) không cùng một tôn giáo (ngườiCil theo Tin lành không thích lấy người Cil theo đạo Công giáo)9.
Mở rộng quan hệ mpôl cũng chính là hệ quả của quá trình thay đổi không gian cư trú, của quá trình các bon người Cil bị dồn ép vào các ấp chiến lược, sau năm 1975 và từ năm 1986 đến nay. Người của mpôl (A) hiện không nhất thiết chỉ có thể lấy người của mpôl (B) hay (C) trong bon của mình, mà họ có thể lấy người thuộc các mpôl (D), (E), ở các bon khác10 (xem sơ đồ Sự biến đổi liên minh hôn nhân và quan hệ dòng họ) .

1
FkhiNhững biến đổi trong quan hệ mpôl vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân của những thay đổi nơi cư trú và dưới sự tác động của các điều kiện kinh tế, xã hội mới. Tuy vậy, trong suốt thời gian qua, hôn nhân “con cô-con cậu” vẫn là cơ sở chủ yếu trong quá trình thiết lập các liên minh hôn nhân giữa các mpôl khi họ sống cách xa nhau về địa lý.
Người cùng mpôl là cùng một dòng máu, là con hoặc cháu của cùng một (bà) mẹ sinh ra. Cùng mpôl là cùng một tổ tiên, dù người đàn ông đi đến đâu, kết hôn về miền đất nào trong bối cảnh kinh tế và quan hệ xã hội rộng mở ở Lâm Đồng, người ta cũng có thể kết nối và tìm chồng cho con gái “là cháu trai của ông ta”.

Đến nay, người Cil cùng một mpôl đã cư trú ở nhiều nơi trong tỉnh Lâm Đồng.
Thế nhưng, nếu người cùng mpôl, dù họ ở đâu, phần nhiều người Cil đều biết nguồn gốc họ và có quan hệ qua lại, nhất là trong các dịp tham dự lễ, tiệc kết hôn. Tri thức cổ truyền dạy người Cil rằng, phải biết dòng họ của mình sống ở chỗ nào. Khi mình có con để mà cưới hỏi với họ, không để mất gốc.
Trong bối cảnh chiến tranh và định canh-định cư từ sau 1975 đến nay, tại nhiều bon, có những người Cil không được sống ổn định vì thiếu đất sản xuất. Đó cũng là nguyên nhân quan trọng để người Cil thuộc mỗi mpôl vẫn tìm cách duy trì các liên minh hôn nhân để di trú đến nhiều khu vực đất đai, thuộc các huyện/thị khác nhau của tỉnh Lâm Đồng.
2.3. Gia đình
Trước khi người Cil vào ấp chiến lược, cấu trúc gia đình mâu

hê ̣ của ngườ i Cil gồm nhiều thành viên thuộc nhiều thế hệ tính theo dòng họ mẹ chung số ng trong môt mái nhà. Tài sản trong gia đình như cing (chiêng), yang
(ché), jôlụ (tô, chén), ui (vải thổ cẩm), xà gạc, trâu, bò do mẹ và chị, em gái có quyền sở hữu và phân phối. Dụng cụ lao động và các đồ vật được coi là tài sản, thường trao đổi trong hôn nhân như cing, yang, jôlụ, ui, xà gạc, là tài sản chính yếu của gia đình người Cil. Khi cần sử dụng trong các quan hệ hôn nhân, tang lễ, trao đổi, v.v vượt ra ngoài gia đình thì người mẹ lớn tuổi cùng các chị, em gái của bà sẽ quyết định, người đàn ông trong gia đình đã có vợ (ông cậu) sẽ góp ý nếu như được mẹ hoặc chị, em gái mời đến. Thực tế, nếu không có các nghi lễ hôn nhân hay cúng tế, tang ma, thật khó phân biệt người đàn ông (chồng) hay người phụ nữ (vợ), ai là người có quyền sở hữu hay định đoạt về tài sản của một gia đình.
Trướ c năm 1960, hoạt động sản xuất du canh -luân khoảnh. Trong căn nhà dài,
chủ nhà (pô hih) là người đàn ông thay vợ điều hành công viêc lam̀ , chuân̉ bi ̣cać lễ nghi cúng tế, quan hê ̣vớ i các gia đình và dò ng ho ̣ khác , vớ i các bon khác… Trong quan hệ xã hội (không phải trong dòng họ), chủ nhà là người đàn ông, ông chí là người chồng của người đàn bà lớn tuổi nhất (còn sống) trong dòng họ, có hiểu biết và sức khỏe. Khi có những việc liên quan đến tài sản của mpôl (trong mpôl của vợ) phải thông qua ý kiến của vợ và anh, chị, em của vợ. Ngườ i vơ ̣ thườ ng đươc coi là chủ nhà – nêú xet́ ở khía caṇ h

trong mpôl của vợ và quyền phân chia tài sản. Viêc mỗi thành viên sử duṇ g tài sản vào những sự kiên quan troṇ g cho riêng mình , thườ ng phaỉ do cać ngườ i me ̣lớ n quyêt́ điṇh và trong hầu hết các trường hợp phải có sự tham gia ý kiến của chồng bà ta , cùng các anh em trai củ a bà (cậu=kồn). Trong gia đình, người vợ có trách nhiệm sinh dưỡng con cái, nội trợ, quản lý gia đình , đăc biêṭ phải biết phân chia tài sản (cũng như đòi lại tài sản) trong các nghi lễ như cưới và tang ma.
Gia đình của người Cil luôn là nơi nuôi dưỡng về thể chất lẫn cuộc sống tinh thần cho mỗi cá nhân. rong mỗi gia đình , cá nhân được giáo dục cách sống , cách lao đôṇ g để sinh tồ n. Đáng chú ý, trong cấu trúc xã hội mẫu hệ của người Cil, gia đình là nơi thiết lập các quan hệ hôn nhân cho các thành viên khi đến tuổi trưởng thành. Con trai khi kết hôn về cư trú bên nhà vợ, theo phong tục và cách sống của nhà vợ. Nếu vợ chết trước, nhà vợ sẽ làm lễ trả người chồng lại cho họ hàng của ông ta và ông ta có thể tiếp tục cuộc hôn nhân mới bằng những lễ hỏi, cưới mới với người phụ nữ khác cùng lứa tuổi trong hoặc ngoài dòng họ của vợ, tùy thích.
Từ sau khi người Cil vào ấp chiến lược, nhất là trong hoàn cảnh của chiến tranh (1960-1975), nhà cửa đã trở nên “tạm bợ” hơn rất nhiều. Nhìn vào cấu trúc phân bố người ở trong một ngôi nhà, khó có thể nhận diện được rõ ràng cơ cấu của một gia đình. Tuy nhiên, nếu xem xét vị trí và vai trò của các thành viên trong một nghi lễ tang ma hay kết hôn của một gia đình. Hoặc xem xét quan hệ của những người có nhà sống gần nhau tại một bon, chúng ta dễ nhận ra, tất cả những ngôi nhà gần nhau ấy đều có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ.
Từ những tác động qua chính sách của nhà nước trước và sau năm 1975, mô hình nhà ở và quá trình kê khai nhân khẩu trong gia đình trên giấy tờ thường khác gia đình có quan hệ huyết thống và kinh tế trên thực tế. Gia đình của người Cil, những người con gái có chồng ở chung với cha mẹ tạo nên một đại gia đình mẫu hệ vừa mở rộng theo chiều dọc lẫn chiều ngang. Thế nhưng, khi nhà nước triển khai các dự án cấp đất ở, nhà ở và đất sản xuất (từ những năm 1990 đến nay), mỗi cặp vợ chồng có con cái đã kê khai thành một gia đình riêng lẻ. Theo đó, cơ cấu “gia đình hạt nhân (hai thế hệ)” trở nên phổ biến trong các bon. Đáng chú ý, tuy là hộ gia đình ở trong những căn nhà khác nhau, nhưng trong đời sống hằng ngày, tài sản, trách nhiệm và nghĩa vụ kinh tế của các gia đình theo dòng mẹ vẫn duy trì và không kém sự chặt chẽ.
Xét trong mối quan hệ kinh tế và quyền sở hữu tài sản còn theo truyền thống, gia đình 3-4 thế hệ của người Cil vẫn còn phổ biến. Rõ ràng dặc điểm cơ cấu gia đình cổ truyền của người Cil tuy đã chịu tác động rất lớn từ việc thay đổi nơi cư trú, việc thiếu đất sản xuất, đất ở,.v.v nhưng dường như sự biến đổi vẫn chủ yếu diễn ra ở bề ngoài.
Cấu trúc gia đình nhìn bề ngoài, đàn ông luôn là người làm chủ các công việc. Tuy nhiên, đi vào các quan hệ dòng họ, quan hệ thừa kế liên quan đến huyết thống, hôn nhân, vai trò của người mẹ, người cậu vẫn giữ vị trí quan trọng.
Từ sau năm 1986, do những qui định trong thủ tục hành chánh, người đàn ông vốn là người quản lý gia đình và hoạt động sản xuất, đã ngày càng có nhiều sự chủ động và quyết định trong một số vấn đề có liên quan đến tài sản của gia đình, như việc mua đất đai, xe gắn máy, công cụ sản xuất, đầu tư học hành cho con cái,.v.v. Trong nhiều gia đình hạt nhân, đàn ông còn thay mặt vợ quyết định nhiều việc của con cái. Trong nghiên cứu về người Cơho (nói chung) ở Lâm Đồng, Bùi Minh Đạo viết rằng, “trên đại thể, dưới tác động của cơ chế thị trường và do ảnh hưởng của các điều kiện mới, về mặt dòng họ, hôn nhân và gia đình, nhiều đặc điểm quan trọng của chế độ mẫu hệ đang biến đổi theo chiều ngả sang chế độ phụ hệ” (Bùi Minh Đạo: 2005, 91). Tuy nhiên, nếu xem xét vai trò của các định chế xã hội phi chính thức được biểu hiện qua phạm trù hôn nhân, dòng họ và gia đình, những yếu tố đã thiết lập nên cái “chế độ mẫu hệ”, thì nhận định trên chưa thật thỏa đáng với người Cơho-Cil ở Lâm Đồng.
Kết luận

Xã hội của người Cil ở Lâm Đồng đã có sự biến đổi, dưới tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau qua từng giai đoạn, mạnh mẽ nhất kể từ sau 1960 đến nay. Thực tế, cấu trúc xã hội mẫu hệ-làng giềng truyền thống với qui mô nhỏ, tự trị và tự quản về quyền lực lẫn sinh kế của người Cil đang duy trì và cũng đang biến đổi. Các định chế xã hội chính thức và phi chính thức đang có những tác động đáng kể qua từng khía cạnh của đời sống xã hội, ở tình huống và trong các nhóm xã hội hẵn là không dễ để có nhận xét khái quát.

Cũng như nhiều tộc người thiểu số khác ở Tây Nguyên, từ khi rời khỏi không gian sinh tồn tại các bon (làng) đến nay, người Cil đã sống tập trung và sinh kế trong điều kiện ấp chiến lược (trước 1975) và theo mô hình định canh-định cư trồng trọt thâm canh cây công nghiệp trong bối cảnh của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần (sau 1975); theo đạo Ki tô giáo và tham gia vào hệ thống hành chánh (quan phương) với các chính sách quản lý, phát triển của nhà nước ở từng thời kỳ. Quá trình giải cấu trúc xã hội trong thực tế đã diễn ra. Các định chế xã hội phi chính thức thể hiện qua bon, gia đình, hôn nhân với các giá trị cổ truyền, luật tục, vai trò của già làng, phù thủy đã đan xen tồn tại trong cấu trúc xã hội mới của người Cil qua từng tình huống, từng thời kỳ. Các quan hệ dòng họ và gia đình được hiển thị qua các nguyên tắc hôn nhân và mô hình liên minh hôn nhân con cô –con cậu giữa các dòng họ đã có những chuyển đổi đáng kể. Xu hướng “mở rộng”, tích hợp các giá trị văn hóa xã hội từ bên ngoài hiển thị qua các các phạm trù này ngày càng rõ nét. Hệ thống tín ngưỡng đa thần (bản địa) đã phá vỡ nhưng quá trình tiếp nhận và “sống đạo” với tôn giáo mới (Tin Lành và Công Giáo) như đã phù hợp hơn với bối cảnh di trú và sinh kế của người Cil kể từ sau 1960. Cơ cấu quyền lực giữa nhân viên nhà nước, người quản lý và truyền đạo trong tôn giáo với các “già làng” đã trở nên hành chánh hơn, quan liêu hơn.v.v và trong nhiều trường hợp là văn minh hơn!
Có thể nói, xã hội người Cil, từ sau khi vào ấp chiến lược đã chịu tác động mạnh mẽ của các yếu ngoại sinh, đến từ bên ngoài. Nhưng trong quá trình đó, đã có nhiều giá trị đã định chế hóa qua các tình huống xã hội để mang một ý nghĩa tương thích với các giá trị cổ truyền và bối cảnh của xã hội mới. Gần 60 năm qua, có những giá trị mới từ bên ngoài (qua tôn giáo, hệ thống quản lý hành chánh với các chính sách phát triển kinh – xã hội của nhà nước, qua quan hệ sản xuất hàng hóa, qua các quan hệ dân tộc và sự chuyển đổi quyền sử dụng đất,.v.v ) những đã tác động lập đi lập lại và dần biến thành những giá trị và chuẩn mực mới trong sự phát triển của cộng đồng người Cil hôm nay.
Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam đang gia tăng, sự tác động của các nhân tố kinh tế, chính trị, tôn giáo đến sự biến đổi xã hội của người Cil, một tộc người thiểu số theo chế độ mẫu hệ ở Tây Nguyên đang rất mạnh mẽ. Cấu trúc xã hội với nhiều các giá trị, chuẩn mực văn hóa truyền thống đang tồn tại đan xen với các giá trị và chuẩn mực văn hóa mới (ngoại sinh, lẫn nội sinh) đang cần được nghiên cứu thêm.

***

Chú thích:

8 Về dòng họ và quan hệ dòng họ trong cấu trúc xã hội mẫu hệ của người Cil, số lượng dòng họ hay sự phân bố dòng họ ở các bon, v.v sẽ viết trong một bài khác.

9 Về vấn đề ranh giới tôn giáo trong hôn nhân của người Cil, xin xem thêm bài Ranh giới xã hội của người Cil và Kơho (Srê)-Nghiên cứu trường hợp xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Tạp chí Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh, số 3 (187), 2014.
10 Những đặc điểm xã hội và văn hóa được biểu hiện qua quan hệ, quy tắc, nghi lễ và sự biến đổi trong hôn nhân của người Cil đã được tôi trình bày một phần trong Luận văn thạc sĩ, Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2009.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bùi Minh Đạo, 2005, “Tổng quan về tổ chức xã hội, dòng họ, hôn nhân và gia đình của người Koho” trong Người Kơho ở Lâm Đồng, Phan Ngọc Chiến (chủ biên),75-93, TP.Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Trẻ.
  2. Bùi Minh Đạo, 2012, Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát triển bền vững, KHXH, Hà Nội.
  3. Dam Bo, 1950, Miền đất huyền ảo, Hội Nhà Văn, 2003, bản dịch của Nguyên Ngọc
  4. Mạc Đường, 1983a, “Vấn đề dân cư và dân tộc ở Lâm Đồng”, trong Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Đà Lạt. Mạc Đường (chủ biên), Sở Văn hóa Tỉnh Lâm Đồng.
  5. Mạc Đường, 1983b, Quá trình phát triển tộc người và nhưng biến đổi xã hội ở Lâm Đồng trong lịch sử, trong Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Mạc Đường (chủ biên), Đà Lạt :Sở Văn hóa Tỉnh Lâm Đồng.
  6. Ngô Văn Lệ, 2010, Văn hóa tộc người: truyền thống và biến đổi, NXB Đại học Quốc Gia HCM.
  7. Nguyễn Trắc Dĩ, 1972, Đồng bào các sắc tộc thiều số Việt NamNguồn góc và phong tục), Saigon: Bộ Phát triển Sắc tộc Ấn hành.
  1. Phan Ngọc Chiến, “Người Kơho và người Chil ở Lâm Đồng: Phân tích tài liệu thư tịch và điền dã về bản sắc và thành phần dân tộc”. Người Kơ ho ở Lâm Đồng, Phan Ngọc Chiến (chủ biên), 211-238, TP.Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ.
  2. Phạm Thanhh Thôi, 2014, Ranh giới xã hội của người Cil và Kơho (Srê)-Nghiên cứu trường hợp xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Tạp chí Khoa học Xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh, số 3 (187).
  3. Phạm Thanhh Thôi, 2006, Socio-economic changes in the Cil community in Da Sar commune, Lac Duong district Lâm Đồng province , Hakusan Review of Anthropology, ISBN978-4-87294-063-3.
  4. Phạm Thanhh Thôi, 2009, Sự biến đổn trog hôn nhân của người Cil ở Lâm Đồng, Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp.HCM, 2009
  5. Phạm Thanhh Thôi, 2013, The making of ethnic boundaries between the Cil and K’ho (sre) in Ninh Gia commune, Duc Trong District, Lam Dong Province, Vietnam“, Journal of Science, HCM City Open University, ISSN :1859-3452, No 1 (6) 2013, p 18-34
  6. Vương Xuân Tình, 2002, “Tái Lập quản lý cộng đồng về đất đai ở các buôn làng Tây Nguyên (trong bối cảnh thực hiện Luật đất đai 1993)”. Một số vấn đề phát triển kinh tế-xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, 390-353, Hà Nội: NXB.Khoa học Xã hội.
  7. Raw, Maran La, 2007, The continuing relevance of E.R.Leach’s Political Systems of Highland Burma to Kachin Studies, Social dynamics in the highlands of Southeast Asia : reconsidering Political systems of Highland Burma by R. Leach, Francois Robinne and Mandy Sadan(ed), 31-67, Leiden [u.a.] :Brill.
  8. Ronald Inglehart; Wayne E. Baker, 2000, Modernization, Cultural Change, and the Persistence of Traditional Values, American Sociological Review, 65, No. 1, Looking Forward, Looking Back: Continuity and Change at the Turn of the Millenium. (Feb., 2000), pp.49/(pp.19-51).

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie