Đôi cánh khỏe, cho bầu trời cao rộng…(phần 1)

Có một mối âu lo gây nhiều ám ảnh nhất trong số các lo âu mà tôi âm thầm giữ mãi trong lòng; ấy là, nhỡ đến một ngày “xấu trời” nào đó, chúng ta bỗng khám phá ra rằng trong số các cử nhân xã hội học (XHH) ra trường, có một tỷ lệ cao những người “hay chữ lỏng”. Có nghĩa là không được đào luyện đến nơi đến chốn, nhưng vẫn cứ đinh ninh là mình đã cầm trong tay cái nghề xã hội học rồi. Đó mới chính là điều đáng ngại! Bởi vì, thà cứ chẳng biết gì thì đi một nhẽ; nhưng biết nửa vời mà lại ra tay “vặn hết ga” để làm cái xã hội học nửa vời ấy, thì thật là không ai có thể yên tâm. Tôi còn nhớ cách đây 15 năm, tại một cuộc thảo luận khoa học ở Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM lúc bấy giờ, tôi có nhắc đến mối đam mê của một số anh em đối với bản câu hỏi xã hội học luôn luôn lăm lăm trên tay. Xã hội học mới dễ làm và oai vệ biết bao!  Có người không dấu diếm rằng họ chỉ ngồi “quẹt” một lúc là xong cái khoản “quét-xi-on-ne” đó (!). Xin mạn phép nhắc lại rằng, trong dịp trao đổi học thuật 15 năm trước đó, tôi đã nói rằng các nhân vật này chính là những người… phá khoa học xã hội học một cách có hiệu suất nhất!

Nhưng giờ đây, nhắc chi đến những chuyện buồn lòng đó?- Tôi tự nhủ. Song, cuối cùng thì tôi vẫn phải nghĩ rằng: thà nhắc đến còn hơn là né tránh. Bởi chúng ta đang bàn đến chất lượng đào tạo nhân lực cho ngành xã hội học. Và theo tôi, một yêu cầu nhất thiết phải đạt tới trong chuyện này là phải đào luyện cho sinh viên nắm vững một cách cân đối cả năng lực hoạt động lý thuyết lẫn kiến thức và kỹ năng thực hành trong đời sống xã hội. Lý thuyết và Thực hành có thể được ví như đôi cánh hùng mạnh, cân đối, có khả năng đưa ta bay vào vùng vẫy trong bầu trời cao rộng của cuộc đời.

Vậy hiện nay, tình trạng của đôi cánh ấy ra sao? Có thể và cần làm gì để cả trình độ lý thuyết và thực hành của sinh viên cùng phát triển?

 Lý thuyết để…”thờ” hay để mài sắc tư duy khoa học?

Đây có vẻ là một câu hỏi thừa, và có phần lẩn thẩn. Ai đời lại đi dạy lý thuyết để cho người học chỉ đem mà “thờ” như vậy? Nhưng tiếc thay, cái chuyện “thờ” ấy, hiện nay vẫn còn tồn tại, nên mới có chuyện cần nói ở đây.

Những lý thuyết hóc búa nhất lại được học vào những lúc bỡ ngỡ, “ngây thơ” nhất…

Các trường Đại học của chúng ta đều có dạy phần lý thuyết xã hội học đại cương, là phần cực kỳ then chốt trong chương trình đào luyện các nhà xã hội học tương lai. Nhưng điều trớ trêu là phần kiến thức cực kỳ phức tạp và trừu tượng này lại được đem ra dạy cho các tân sinh viên năm đầu tiên, vào lúc đó họ còn chưa hả mùi học sinh trung học, có nghĩa là vào lúc các cô, các cậu đang bỡ ngỡ nhất và còn nhiều chất ngây thơ nhất.

Vì vậy mà việc tiếp thu các tri thức lý thuyết này chỉ đạt  hiệu quả thấp. Có bài, sinh viên thực sự bị “lùng bùng lỗ tai” và không biết cái gì đang xảy ra… Song, sinh viên năng động lắm. Họ ráng ghi chép, nhất là những câu quan trọng thầy đọc, và chịu khó “sao lục” lại sổ ghi của các tay có máu mặt trong lớp. Ngoài ra cũng được đọc sách thêm. Nên cuối cùng thì cũng vui vẻ “qua cầu” cả. Song le, sinh viên thì đã qua cầu, mà chuyện trang bị chiếc cánh lý thuyết cho cuộc bay vùng vẫy sẽ diễn ra trong tương lai thì vẫn còn nhiều trắc trở.

Ở những bước sau của chương trình, các lý thuyết đại cương ít có cơ hội được vận dụng sâu vào các môn XHH chuyên biệt và các luận văn.

Chúng tôi chưa dám khái quát trình trạng này cho mọi môn XHH chuyên biệt, mà chỉ thử nêu vấn đề từ môn xã hội học đô thị là môn mà bản thân chúng tôi có dịp quan sát trực tiếp tương đối kỹ hơn.

Trong những năm gần đây, khi tham gia giảng dạy môn xã hội học đô thị, tôi đã thử cố gắng gắn các lý thuyết ở cấp độ trung gian của môn học chuyên biệt này với những mệnh đề quan trọng trong xã hội học đại cương đang thực sự có sức chi phối về lý thuyết đối với các vấn đề của xã hội học đô thị. Làm công việc này thật không dễ dàng, và cũng rất khó thành công. Có điều, trong khi ráng sức đi theo định hướng đó, tôi nói rõ với các sinh viên là: mỗi lần đi sâu vào một môn XHH chuyên biệt, là một lần ta có cơ hội để ôn lại, vận dụng sức sống của các lý thuyết xã hội học đại cương ở những mặt có nhiều mối liên quan bản chất nhất. Trên một ý nghĩa nào đó mà nói, thì học XHH đô thị là một cơ may nữa để biết sâu thêm “xã hội học là gì?”- tôi thầm nghĩ.

Điều bất ngờ là một hôm, trong hành lang giảng đường Đại học N. vào giờ nghỉ giữa hai tiết học, một nhóm sinh viên đến bên tôi, và một bạn nam nói: “Thưa thầy, bây giờ đến năm thứ tư rồi, chúng em lại cứ tự hỏi: Vậy thì cuối cùng, xã hội học là gì?”. Câu nói làm tôi lặng cả người đi. Ít nhất đó cũng là một dấu hiệu cho ta thấy độ thấm của hệ thống lý thuyết xã hội học đại cương chưa đủ sâu, chưa đủ rộng trong đầu óc một số sinh viên (đông đảo tới đâu?-chưa biết), chưa nói đến sự hình thành một bản lĩnh nào đó, đủ để chi phối tư duy và hành động, với tư cách là người làm xã hội học.

Vậy có cách gì không, để vào những năm cuối, chúng ta có thể cùng các bạn trẻ trở về với câu chuyện lý thuyết, khi các bạn ấy đã chín muồi hơn, và thực sự muốn củng cố bản lãnh lý thuyết của mình? Theo tôi, ít nhất thì cũng có hai cách để đáp ứng yêu cầu này, nhưng rất tiếc là cả hai cách đều chưa được chú ý đúng mức. Một là: trở lại với lý thuyết xã hội học đại cương – và thậm chí mở rộng thêm tầm lý thuyết- khi đi vào giảng xã hội học chuyên biệt; và hai là: giảng lại từng phần lý thuyết đại cương liên quan đến các luận văn hoặc đề tài thực tập cuối khóa, và gợi ra cách vận dụng.

Tôi lấy làm tiếc khi đọc nhiều chương sách về xã hội học đô thị, thấy vắng bóng một cách đáng kinh ngạc các quan điểm lý thuyết đại cương hữu quan của nhiều tác giả kinh điển mác xít và không phải mác xít. Chẳng hạn như, sẽ không thể nào hiểu được sự xuất hiện của đô thị như kiểu chiếm lĩnh không gian mới dưới tác động của sự phân hóa trong xã hội tổng thể, nếu không tìm lại Hệ tư tưởng Đức của K.Marx và F.Engels. Đặc biệt là những phần nói về các trình độ của sự phân công lao động và những hệ quả của nó tới sự tách rời và đối lập giữa thành thị và nông thôn.

Một thí dụ khác, khi ta nói về sự tích tụ cao độ các năng lực về kinh tế, con người, về tư bản, về khoa học, công nghệ, thông tin…trong các đô thị như là một nội dung bản chất của đô thị hóa, thì đó cũng là lúc thích hợp để nhắc lại ý của các tác giả Hệ tư tưởng Đức về tính “tập trung” của đô thị, đối lập với tính “biệt lập và phân tán” của nông thôn. Và dưới đây có lẽ sẽ là một mệnh đề không thể thiếu để giúp sinh viên hiểu được thực chất của các thành thị thời công nghiệp tư bản chủ nghĩa, giúp mở rộng cho họ tầm nhìn về thành thị trong một toàn cảnh hình thái kinh tế-xã hội đang chuyển động: “Thay cho những thành thị hình thành một cách tự nhiên trước kia, nó, [tức chủ nghĩa tư bản - người viết chú thích] tạo ra những thành thị công nghiệp lớn, hiện đại, phát triển nhanh như chớp. Xâm nhập tới đâu là ở đó nó tiêu diệt thủ công nghiệp và nói chung tất cả các giai đoạn trước kia của công nghiệp. Nó hoàn toàn là sự chiến thắng của thành thị thương nghiệp đối với nông thôn”. Trên thực tế, những cuộc trở lại với các lý thuyết cơ bản như thế này hãy còn khá hiếm hoi trên sách giáo khoa và trên giảng đường.

Thêm vào những thiếu sót đó, hiện các thầy cô giáo ở đại học còn quá thiếu những cẩm nang có giới thiệu và dịch những bài viết, chương sách quan trọng nhất về lý thuyết của các tác giả hàng đầu trên thế giới, có liên quan đến từng môn xã hội học chuyên biệt. Chẳng hạn, không thấy ai có bản dịch đáng tin cậy bài báo cực kỳ nổi tiếng và gây nhiều tranh cãi của Louis Wirth thuộc trường phái xã hội học Chicago: “Đặc tính đô thị như là một lối sống”. Hoặc như người ta đã giảng cho sinh viên ít nhiều về quan điểm của Max Weber về đô thị như một đơn vị kinh tế, một đơn vị chính trị, và những đơn vị đó được xem xét trong khuôn khổ phân tích về quyền lực. Song, ai đã đọc kỹ những gì Max Weber viết về những điều mà ta thường biết được nhờ sự tóm tắt của các tác giả khác? Hay là, các khía cạnh tiếp cận tâm lý học của Georg Simmel với đời sống đô thị; các quan điểm sinh thái học đô thị của Robert Park…thì nhiều thầy cô chúng ta đã có bản toàn văn hay trích đoạn đáng kể nào đâu!

Nói tóm lại, từ cách quan niệm bước đi của chương trình, tới việc hoàn thiện tủ sách lý thuyết cho thầy trò, tới quan niệm mới về mối nối biện chứng giữa lý thuyết đại cương và các lý thuyết cấp trung gian… đều cần được xem xét kỹ. Và chỉ có sự chuyển biến mạnh mẽ trên lĩnh vực này thì ta mới hy vọng thực hiện được điều mà nhiều giảng viên xã hội học từng tâm niệm: hãy làm cho sinh viên xã hội học biết yêu và tôn vinh lý thuyết mà nhờ đó ta có khả năng nhìn cái thế giới quá quen thuộc ta đã sống với nó gần suốt đời mình “dưới một làn ánh sáng mới”. Không phải đây là ý kiến của tôi. Đây là ý được trích ra từ cuốn Mời gọi đến với xã hội học của P. Berger. Tác giả này còn nói thêm một câu rất khó mà quên được: “Có thể nói rằng sự thông thái trước tiên của xã hội học là ở chỗ mọi thứ [thật ra] không phải như chúng có vẻ là như thế!”

(Còn tiếp)

 Nguyễn Quang Vinh

(trích trong cuốn Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu xã hội học đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Trường Đại học KHXH và NV (Đại học quốc gia Hà Nội), Hà Nội, 2001, tr. 105- 112)

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie