Để có được tư duy phản biện

Tư duy phản biện là một quá trình tư duy nhằm chất vấn các giả định hay giả thiết. Đó là cách để khẳng định rằng một nhận định nào đó là đúng hay sai, đôi khi đúng, hay có phần đúng (nguồn: http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=276&Itemid=2). Tư duy phản biện là thành tố quan trọng trong bối cảnh nền giáo dục của chúng ta đang cố gắng xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời. Quả vậy khi nói đến xã hội học tập hay học tập suốt đời, nền giáo dục bắt buộc phải trang bị cho mỗi cá nhân khả năng phản biện bởi tư duy phản biện là phẩm chất thuộc vào loại quan trọng nhất của quá trình tự học, hay nói cách khác, nếu không có tư duy phản biện thì người ta không thể tự học và như thế cũng không thể có chuyện học tập suốt đời. Tư duy phản biện cũng là một trong những nền tảng để suy nghĩ và tranh luận và trong bối cảnh mà kiểu tranh luận thường có xu hướng chú trọng đến đời tư, phẩm chất đạo đức của các cá nhân có liên quan đang có vẻ thắng thế thì việc trui rèn tư duy phản biện lại càng cần thiết. Bởi nếu không có tư duy phản biện việc tranh luận sẽ thiếu khách quan, thiếu lý tính và bị chi phối bởi những thiên kiến vốn đã thấm nhập vào trong tiềm thức của mỗi người chúng ta. Nói một cách chung nhất, tư duy phản biện là nghệ thuật phân tích và đánh giá tư duy nhằm hoàn thiện tư duy và cải thiện chất lượng cuộc sống. Chúng ta có thể liệt kê một số lợi ích của tư duy phản biện như sau:

– khi có tư duy phản biện, người ta sẽ có thể đưa ra được những câu hỏi, những vấn đề nghiên cứu một cách thích đáng, rõ ràng;

– thu thập và lượng giá được các thông tin thích hợp đồng thời giải thích được các thông tin ấy bằng tư duy trừu tượng;

– đưa ra được những kết luận và những giải pháp hợp lý;

– có tư duy phản biện thì có nghĩa là biết suy nghĩ trong nhiều chiều hướng khác nhau khi nhìn nhận một vấn đề hay đi tìm câu trả lời cho một câu hỏi nào đó.

(nguồn: http://www.criticalthinking.org/files/SAM_FR_ConceptsLOCK.pdf)

Vì sao chúng ta không có văn hóa phản biện?

Tư duy phản biện hay phản biện xã hội là một phẩm chất cần có của sinh viên đại học, người nghiên cứu khoa học. Xét về mặt xã hội học, giáo dục Việt Nam không tạo được văn hóa tranh luận trong xã hội. Chúng ta rất hiếm thấy những buổi tranh luận về mặt học thuật cũng như tranh luận về mặt chính sách.

Có hai yếu tố dẫn đến những điều trên. Thứ nhất, ở Việt Nam đảo đỉnh truyền thống, nên khi người thầy nói ra người học phải nghe và không đồng ý cũng không mạnh dạn tranh luận. Nói về mặt xã hội hóa theo nghĩa xã hội học, chúng ta không tạo ra những cá nhân có những phẩm chất tranh luận. Chúng ta không có giáo dục một cách dân chủ từ trong gia đình. Bởi chịu ảnh hưởng của truyền thống Nho giáo nên cha mẹ là người quyết định hết mọi thứ khi giáo dục con cái trong gia đình. Trong điều kiện đó, đứa con sẽ trở thành nhân vật bị trị.

Bước vào trường học, ở Việt Nam quan niệm sách giáo khoa là pháp lệnh mà pháp lệnh thì luôn đúng và phải học theo. Tiếp đến, thầy nói theo sách giáo khoa nên thầy luôn đúng. Và bước vào môi trường học đường chúng ta lại tiếp tục lại trở thành người bị trị bởi những người thầy và bởi sách giáo khoa. Trong môi trường đại học cũng không có tranh luận, hay hiếm có một buổi tranh luận đàng hoàng. Cũng có những buổi thảo luận nhóm và sinh viên tranh luận với nhau, nhưng ít có những cuộc tranh luận về mặt tư tưởng một khi vị giáo sư nào đó đã đưa ra quan điểm. Thầy là người nắm chân lý, là trung tâm của mọi thứ và người học phải tiếp nhận những điều đó. Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ bất bình đẳng. Lịch sử tư tưởng trong các xã hội nói chung và xã hội học nói riêng, nhiều tư tưởng mới hình thành là do học trò phản biện thầy. Ở Tây phương đó là chuyện bình thường.

Ở hai môi trường xã hội hóa quan trọng đầu tiên ấy, chúng ta không được trang bị (nhiều) cái gọi là phẩm chất để tranh luận, để phản biện. Cho đến khi bước ra ngoài xã hội, chúng ta thấy nhiều vấn đề, muốn có tranh luận, bên cạnh những cá nhân có phẩm chất tranh luận, thì cấu trúc xã hội phải cung cấp cho người ta những cơ hội để thể hiện những điều đó bởi những áp lực về mặt tư tưởng chính trị.

Hai điều kiện để có phản biện xã hội

Để có tranh luận, phản biện trong xã hội phải có hai điều kiện. Thứ nhất, nền giáo dục của chúng ta phải tạo ra những cá nhân có đủ những phẩm chất căn bản để tranh luận và phản biện. Thứ hai là phải có cơ cấu xã hội, môi trường xã hội thúc đẩy người ta dám tranh luận và xem tranh luận là một sinh hoạt hoàn toàn bình thường.

Phẩm chất tranh luận, tư duy phản biện là gì? Đơn giản, tranh luận là người ta được quyền đặt câu hỏi xem xét lại và tranh luận với mọi ý tưởng. Tư duy phản biện không chấp nhận một điều gì đó hay một phát ngôn nào đó là chân lý tuyệt đối, là đúng hoàn toàn cho dù được phát xuất từ bất cứ ai. Người ta có quyền được nghi ngờ tất cả với mọi hình thức, thiết lập lại lối tư duy về một phát ngôn và lập luận nào đó, và phản biện lại nhằm đưa ra một lối lập luận khác.

Phẩm chất đầu tiên mà mỗi cá nhân cần có để tranh luận là không thành kiến. Bản thân người tranh luận không bị những những thành kiến trong tư tưởng đưa vào cái bẫy thiên vị.
Phải là người chấp nhận sự phản biện. Đây là phẩm chất thứ hai. Họ là người có khả năng, có phẩm chất chấp nhận sự phản biện, chấp nhận sự đa dạng, khác biệt của tri thức, một vấn đề có nhiều góc nhìn, nhiều lối lý giải khác nhau chứ không phải chỉ có một góc nhìn duy nhất. Chẳng hạn với hiện tượng tự tử, nhà tâm lý học sẽ giải thích hoàn toàn khác với nhà xã hội học… chúng ta phải chấp nhận điều đó, chấp nhận sự khác biệt.
Thứ ba là phải biết vận dụng những tiêu chuẩn để đưa ra tranh luận. Các tiêu chuẩn dùng trong tranh luận phải có logic và không ngụy biện. Có nhiều trường hợp phê bình nền khoa học Việt Nam, 50% giáo sư Việt Nam không biết ngoại ngữ thì đến chừng nào đất nước Việt Nam mới phát triển? Có nhiều ông giáo sư phản bác lại, đừng khinh thường Việt Nam, chúng tôi đánh thắng Mỹ, Pháp rồi đấy. Họ luôn luôn dùng lý lẽ đó để lập luận rằng Việt Nam rất giỏi, tôi không hiểu đó có phải là logic hay không? Muốn bác bỏ một cái gì đó, chúng ta phải biết vận dụng đúng cách các chuẩn về lập luận, logic, không ngụy biện, không có dùng áp lực chính trị để buộc người khác phải chấp nhận.
Phẩm chất thứ tư đó là mỗi cá nhân phải có khả năng tranh luận hay nói cách khác là khả năng truyền thông. Tranh luận không phải chỉ mình nói, phải biết nói cho người khác nghe hiểu và phải biết nghe người khác nói. Trong tranh luận yêu cầu phải có và chia sẻ cùng một chuẩn mực chung tức là phải tuân thủ những tiêu chuẩn lý tính. Và người tranh luận phải có khả năng suy luận từ một số chi tiết để rút ra kết luận tổng thể.
Và cuối cùng, chúng ta muốn tranh luận thì phải có căn cứ, phải có dữ liệu minh chứng cho lập luận của mình. Quan sát các sinh viên Việt Nam khi tranh luận, ta thấy họ thiếu sự tự tin mà một trong những lý do đó là vì họ ít có tài liệu để đọc hoặc họ không chịu đọc sách cho nên khi thầy giáo đưa ra một lý thuyết hay một lối nhìn nào đó, họ đều thấy nó mới mẻ và không dám tranh luận và thường là chấp nhận những ý tưởng lý thuyết đó một cách tuyệt đối. Trong khoa học xã hội, không có vấn đề nào là mới hoàn toàn. Những năm 30, 40 của thế kỷ hai mươi, xã hội học Mỹ đã giới thiệu những công trình thực nghiệm nghiên cứu hành vi tình dục của con người mà chúng ta hay cho là hành vi nhạy cảm và riêng tư. Vì vậy, muốn tranh luận đòi hỏi phải có đầy đủ các thông tin, nó đòi hỏi chúng ta phải đọc rất nhiều và nắm được rất nhiều thông tin, dữ liệu.

Thông thường, ở những chỗ tranh luận phi chính thức (bàn nhậu, quán xá,…) người ta mới đưa ra những lý lẽ đanh thép để phản biện về điều này điều nọ. Còn trong một diễn đàn chính thức, họ bo bo cất mọi thứ để bản thân được an toàn. Tại sao lại như thế? – Là bởi, muốn có văn hóa tranh luận hay phản biện trong xã hội thì phải có một cơ cấu xã hội, mô hình xã hội thích hợp. Một mô hình xã hội thích hợp là mô hình xã hội đa thể hay là đa quyền lực. Ở đó không có trung tâm quyền lực duy nhất chi phối và quyết định mọi thứ (quyết định cái nào đúng cái nào sai!) mà mỗi một nhóm, mỗi một định chế đều có quyền lực riêng và quyền tranh luận với các nhóm, các định chế khác. Ở đây tôi nói về một xã hội quyền lực cân bằng.

Trong tranh luận, đương nhiên là phải xem xét vấn đề một cách đa diện nên người ta thường khuyến khích làm nghiên cứu liên ngành. Một thời không xa trước đây xã hội học, nhân học, sử học thường tách biệt với nhau vì đều muốn khẳng định địa vị độc lập trong khoa học còn bây giờ trong các đề tài lớn đòi phải có liên ngành. Bởi trong khoa học xã hội thì ranh giới giữa các ngành thường rất mờ. Đặc biệt là sử học và xã hội học, người ta nói sử học là xã hội học về quá khứ, còn xã hội học là sử học về hiện tại (!?). Và trong nghiên cứu, đòi hỏi nhà khoa học phải biết các thủ thuật về tư duy như đặt câu hỏi, đưa ra các cái giả định, các bài toán, các giải pháp, giả thuyết và các phán đoán tư duy để kiểm chứng vấn đề.

Các cấp độ tư duy và phẩm chất của người tri thức trong phản biện

Cấp độ tư duy phản biện thông thường ở sinh viên là lối tư duy nhị nguyên, Yes-No, cái này đúng – cái kia sai, người ta gọi là tư duy 1 – 0. Đó là tư duy cấp một, tư duy A, B, C. Nhưng trong các vấn đề thực tế của xã hội không phải lúc nào cũng Yes-No. Đâu phải cái này đúng thì cái kia sai, không có lý thuyết nào đúng hoàn toàn hay sai hoàn toàn. Điều này làm hạn chế tư duy của chúng ta. Dựa trên lối tư duy này thì không tranh luận được. Đến giai đoạn thứ hai, tức sinh viên năm thứ hai, thứ ba trở lên, có nhiều thông tin, học được nhiều điều nên họ bắt đầu tư duy đa diện, có nhiều lối nhìn khác nhau về một hiện tượng. Tới đây, chúng ta đã có thể tranh luận, tuy nhiên phải tiến tới tư duy cao hơn, đó là tư duy về tính tương đối. Nghĩa là lập luận mình đưa ra chỉ mang tính tương đối, chấp nhận có sự tương đối trong khoa học thì mới dẫn tới tranh luận.

Và trong phần này, muốn đi đến tranh luận thì người ta cũng nói đến phẩm chất của người tri thức.

Phẩm chất đầu tiên của một trí thức là độc lập về tư tưởng. Phải có tư tưởng độc lập mới có tranh luận, mới có phản biện. Nhưng nhìn chung thể chế xã hội chưa cho phép cá nhân có được sự độc lập hoàn toàn trong tư tưởng.
Đặc điểm kế tiếp, người trí thức là người trung thực về mặt học thuật, tranh luận.
Đặc điểm thứ ba của người trí thức đó là sự khiêm tốn, khiêm tốn ở đây không có nghĩa là người khác nói gì ta cũng gật gù, mà là sẵn sàng chấp nhận nếu bản thân sai, bản thân không biết khi người khác phản biện.
Đặc điểm thứ tư của người trí thức là phải tin vào lý tính (duy lý hóa).
Thứ năm, là theo đuổi kiên định lập trường, mục tiêu nghiên cứu.
Đặc điểm thứ sáu là không thiên vị, không thiên vị ai, không thiên vị bất cứ lý thuyết nào. Đương nhiên là chúng ta có quyền theo đuổi một trường phái lý thuyết nào đó nào thì phải tiếp tục ủng hộ và có can đảm theo đuổi về mặt kiến thức, nhưng không thể khuôn ép mọi người phải giống chúng ta.
Và cuối cùng, là niềm đam mê khoa học.

Khoa học xã hội – đồng hành với xã hội và lên tiếng khi cần

Khoa học xã hội luôn luôn phải đóng vai, đồng hành với sự thăng trầm của nhịp sống của xã hội. Chúng ta cũng thẩm định là xã hội này sẽ đi tới đâu trong khi nó diễn ra những nhịp điệu đó và lên tiếng khi cần.

Tôi cũng nói thêm, trong xã hội học có một cái khuynh hướng nghiên cứu xuất hiện gần đây, của ông Michael Burawoy – trưởng khoa xã hội học của đại học California. Ông có triển khai một nhánh nghiên cứu trong xã hội học gọi là public sociology mà tôi tạm dịch là xã hội học công cộng hay xã hội học đại chúng. Theo ông, việc nghiên cứu phải làm sao thu hút sự quan tâm và tham gia tranh luận của đại chúng về các vấn đề nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu, đề tài mình nghiên cứu không chỉ dành cho sinh viên cao học, tiến sĩ, giáo sư… trong môi trường đại học hay viện nghiên cứu mà xã hội học bây giờ phải đưa ra những chủ đề liên quan đến đại chúng, lôi kéo được sự quan tâm của đại chúng. Do đó, ông nói rằng một nhà xã hội học đúng nghĩa là phải tham gia viết báo để công bố những bài phản biện của mình cho mọi người tham gia vào và viết sao cho người ta dễ hiểu chứ không phải chỉ làm các nghiên cứu, chỉ báo cáo trong hội đồng hai ba chục vị tiến sĩ xã hội học, giáo sư nhân học biết rồi thôi. Các nhà xã hội học phải ra ngoài viết tiếp, phải tiến hành các cuộc nghiên cứu đụng chạm tới nhiều vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Theo khuynh hướng xã hội học đại chúng này, bắt buộc chúng ta phải tranh luận, phải phản biện và phải tham gia vào đời sống xã hội nhiều hơn.

Lê Minh Tiến

Nguồn: Bút cafe học thuật

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

3 Responses to “Để có được tư duy phản biện”

  1. Nguyễn Giang Thành says:

    Tôi liên lạc với mấy chục tờ báo, xin gởi đăng một bài phản biện chống lại thuyết tương đối. 96% làm thinh. Không có một chữ phản hồi. Tại sao? Tại sao họ lại làm thinh dù chưa biết tôi viết cái gì?
    Còn Social life thì sao? Nếu được, xin cho tôi biết qua email: thanhgn@hotmail.com

    • Nguyen says:

      Chào anh Nguyễn Giang Thành
      Chúng tôi rất hoan nghênh tinh thần phản biện của anh. Nếu được xin anh vui lòng gửi bài cho chúng tôi theo địa chỉ: sociallife.study@gmail.com
      Chúng tôi sẽ cân nhắc công bố quan điểm này của anh.
      Chúc anh mạnh khỏe, hạnh phúc

  2. 33Kali says:

    I must say it was hard to find your blog in google. You write great articles but you should rank your blog higher in search engines.
    If you don’t know 2017 seo techniues search on youtube: how
    to rank a website Marcel’s way

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie