Cõi sống

Cõi sống hay thế giới của cuộc sống hàng ngày và những thực tại thông thường, là một khái niệm bắt nguồn từ tác phẩm của nhà hiện tượng học Edmund Husserl (1859 – 1938) và được phát triển trong ngành xã hội học bởi nhà xã hội học hiện tượng học Alfred Schütz (1899 – 1959). Bản thân của Schütz quan tâm đến phạm vi (thế giới của cuộc sống hàng ngày và những thực tại thông thường) mà những cá nhân vật lộn với ý thức của những người khác trong khi đang sống trong dòng ý thức của bản thân họ. Cõi sống mà Schütz đã mô tả là một lĩnh vực liên chủ thể mà con người sáng tạo nên những thực tại xã hội của họ đồng thời bị giam hãm bởi những cấu trúc văn hóa và xã hội đã có sẵn. Cõi sống đã hiện hữu rất lâu trước khi chúng ta được sinh ra, nhưng chúng ta có quyền lực để tác động trở lại nó. Hơn thế nữa, mỗi người chúng ta có một cõi sống của riêng mình, mặc dù tất cả mọi tác nhân đều có chung những yếu tố tương đồng.

mỗi người chúng ta có một cõi sống của riêng mình, mặc dù tất cả mọi tác nhân đều có chung những yếu tố tương đồng.

mỗi người chúng ta có một cõi sống của riêng mình, mặc dù tất cả mọi tác nhân đều có chung những yếu tố tương đồng.

Trong phạm vi này, con người hoạt động trên cái mà ông gọi là thái độ tự nhiên (natural attitude). Thái độ tự nhiên là cái mà con người cho thế giới xung quanh họ là hiển nhiên. Họ không chút nghi ngờ về sự hiện hữu hoặc thực tại của nó cho đến khi nảy sinh một tình huống hồ nghi. Tình huống hồ nghi này chỉ xảy ra khi con người ngưng tin cậy vào “công thức” dành cho cách giải quyết những tình huống thường ngày và buộc phải phát triển những cách thức sáng tạo để giải quyết những vấn đề mà họ gặp phải.

Có sáu đặc trưng cơ bản về cõi sống. Đặc trưng đầu tiên là cái mà Schütz đã gán cho như là “nhận thức mở rộng” (1973:213), hay trạng thái của ý thức trong lúc những tác nhân (actors) dâng hiến tất cả mọi nguồn lực và sự chú ý của họ đến cuộc sống hiện tồn. Đặc trưng thứ hai là những tác nhân chấp nhận sự tồn tại của cõi sống mà không đặt câu hỏi về nó. Đặc trưng thứ ba và cũng là đặc trưng quan trọng nhất đối với định nghĩa của Schütz là cái tiêu biểu cho cõi sống, tác nhân thực hiện công việc. Công việc ở đây được xem như bất kỳ hành động nào không mang tính hiện tượng học được thực hiện bởi những tác nhân với ý định gây ra một tình huống thông qua hành động. Đặc trưng thứ tư là sự tự hiểu thông qua công việc mà ta đi đến trải nghiệm như là một cái toàn bộ. Đặc trưng thứ năm, cõi sống bao gồm những hành động và những tương tác xã hội xảy ra trong thế giới chia sẻ của hành động và giao tiếp xã hội. Đặc trưng thứ sáu là dòng thời gian của những tác nhân giao cắt với dòng thời gian toàn bộ của xã hội.

Một nhà lý thuyết xã hội quan trọng khác có liên quan tới khái niệm về cõi sống là Jürgen Habermas. Mặc dù Habermas quan tâm đến sự giao tiếp tự do và cởi mở và hành động giao tiếp nói chung, nhưng ông cũng có những đóng góp to lớn đến khái niệm về cõi sống. Habermas đối lập cõi sống, xem nó như là thế giới xuất phát từ viễn tượng của chủ thể hành động bên trong nó, với hệ thống, là thế giới xuất phát từ viễn tượng của người quan sát khách quan. Mặc dù hai khái niệm khác nhau, nhưng Habermas cho rằng chỉ có duy nhất một xã hội, và hệ thống và cõi sống chỉ là những phương cách khác nhau nhằm tìm kiếm một xã hội đặc thù.

Cõi sống là nơi người nói và người nghe gặp gỡ (Habermas đặc biệt quan tâm đến sự giao tiếp) và là nơi chứa đựng một khả thể đối với họ nhằm đạt tới một sự đồng thuận hay tới một sự hiểu. Một phạm vi rộng của những sự thông hiểu chung và những tiền giả định ngầm cần phải hiện hữu và phải hiểu lẫn nhau để sự giao tiếp xảy ra.

Mối quan tâm chính của Habermas là cái mà ông gọi là “thực dân hóa cõi sống” (1987). Thuật ngữ này hàm chứa hệ thống và những mệnh lệnh duy lý hóa của nó đang ngày một thống trị và bạo hành đối với cõi sống. Sự “bạo hành” này chống lại cõi sống thông qua hệ thống rõ ràng và hiển nhiên nhất trong những cách thức mà qua đó sự giao tiếp bị giới hạn và gia tăng hơn sự ít chỉ đạo hướng tới một mục đích của sự đồng lòng. Nói cách khác, sự bạo hành này cũng sản xuất một chuỗi của “những bệnh lý học” và những khủng hoảng bên trong cõi sống vốn là căn nguyên của những vấn đề xã hội nghiêm trọng.

Mục tiêu của tương lai, theo Habermas, phải là một thế giới mà qua đó hệ thống và cõi sống có thể được làm giàu cho cả hai (được tái kết hợp) và không cái nào bị thống trị bởi cái kia

Mục tiêu của tương lai, theo Habermas, phải là một thế giới mà qua đó hệ thống và cõi sống có thể được làm giàu cho cả hai (được tái kết hợp) và không cái nào bị thống trị bởi cái kia

Mục tiêu của tương lai, theo Habermas, phải là một thế giới mà qua đó hệ thống và cõi sống có thể được làm giàu cho cả hai (được tái kết hợp) và không cái nào bị thống trị bởi cái kia. Hai phương cách tìm kiếm xã hội cần kết hợp với nhau một lần nữa, như chúng đã từng kết hợp trong xã hội nguyên thủy. Phương cách dễ dàng nhất để đạt được mục tiêu này là sự đẩy mạnh hơn nữa sự giao tiếp tự do và cởi mở và kháng cự lại sự duy lý hóa ngày càng gia tăng nhằm áp đặt lên cõi sống thông qua hệ thống. Hành động này vốn được đảm nhận thông qua nhiều những trào lưu xã hội đã nảy sinh ở những ranh giới giữa hệ thống và cõi sống. Habermas cũng đề nghị thực hiện “những rào cản hạn chế” nhằm giới hạn những ảnh hưởng của hệ thống lên cõi sống và “ những bộ cảm biến” (sensors) nhằm gia tăng trở lại những ảnh hưởng của cõi sống đối với hệ thống. Mặc dủ ông nghi ngờ khả năng cứu vãn cõi sống của Hoa Kỳ, nhưng Habermas hy vọng rằng châu Âu có khả năng sáng tạo một thế giới mà qua đó cõi sống và hệ thống có thể cùng tồn tại mà không áp đặt lẫn nhau.

Michael Ryan

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie