Có một hệ tri thức bản địa ở Tây Nguyên bị đánh mất

Trong quan hệ sinh tồn của con người với hệ sinh thái tự nhiên và thần linh, bao thế hệ người Tây Nguyên đã trải nghiệm, chia sẻ và tạo nên một hệ tri thức bản địa phong phú, đa ngành. Nhưng hệ tri thức ấy nay chỉ còn có ý nghĩa “bảo tồn” và được “lưu trữ” chủ yếu qua sách vở hay lễ hội được sân khấu hóa. Đáng nói, trong cuộc sống thường ngày, người Tây Nguyên đang cảm thấy xa lạ với tri thức bản địa do chính mình đã trải nghiệm và tích lũy.

Từ 100 năm qua, các thế hệ nhà nhân học(1) trong và ngoài nước đã nỗ lực để hiểu và ghi chép hệ thống tri thức bản địa (indigenous knowledge – IK) của các tộc người tại chỗ(2) Tây Nguyên. Thực tế, đã có một hệ thống IK sống động được biểu hiện trong đời sống hàng ngày của cư dân tại các bon/làng. Có không ít IK ẩn trong hàng vạn câu chuyện thần thoại, thơ ca, luật tục, phong tục, nghi lễ,… được các nhà nghiên cứu sưu tầm và xuất bản.

Tri thức bản địa là tập hợp kinh nghiệm tập thể, hình thành trong quá trình con người tương tác với hệ sinh thái tự nhiên. Nó là thế giới quan và cách hành xử được người bản địa chọn lọc qua nhiều thế hệ. Nó là cơ sở để thực hành các hoạt động sống như trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm, chăm sóc sức khỏe, bảo quản lương thực và chế biến thực phẩm, làm công cụ và trang phục, xây dựng nhà ở, bảo vệ nguồn nước, dự đoán thời tiết, thích ứng với thay đổi khí hậu và dịch bệnh, thực hành các nghi lễ, tín ngưỡng và tâm linh.

Đến nay, qua những biến đổi kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, tri thức bản địa như chỉ còn có ý nghĩa bảo tồn trên sân khấu, nơi sách vở hay trong suy tư của các nhà nghiên cứu. Vì đâu người Tây Nguyên ngày càng thấy xa lạ với tri thức do chính họ đã trải nghiệm và tích lũy qua nhiều thế hệ? Do đâu tri thức bản địa – cái làm nên bản sắc văn hóa của mỗi tộc người – lại nhanh chóng mất đi?

Sống như là đứa con của Tự nhiên!

Trước đây, người Tây Nguyên biết sống và thể hiện cách sống hòa điệu với tự nhiên hơn là chống đối tự nhiên. Dù sống du canh hay định canh trồng lúa nước và nuôi gia súc thả rông, họ đều biết phân loại và sử dụng hài hòa các loại rừng, cũng như biết cách khai thác, săn bắt các loại động, thực vật một cách hợp lý.

Không gian tương giao giữa người với người (trong và ngoài dòng họ hay bon/làng), với tự nhiên (rừng, đất, trời, sông, suối, vạn vật), với thế giới siêu nhiên/vô hình (các thần linh-yang và linh hồn-ma/quỷ) được hiển thị trên cả phương diện thể lý và trong ý niệm (xem sơ đồ). Quan hệ đa chiều giữa người-tự nhiên-thần (ý niệm đa thần: vạn vật đều có linh hồn, nhưng trên hết có vị thần tối thượng không gắn với hình hài nào, được gọi là Yang Ndu) được xác lập theo một kết cấu chặt chẽ.

ccdb1_so_do_tay_nguyen

Sơ đồ: Không gian sinh tồn của bon/palei (làng) cổ truyền các tộc người bản địa ở Tây Nguyên, Việt Nam. Vẽ: PHẠM THANH THÔI

Trong thế giới quan của người Tây Nguyên, người là đứa con của Tự nhiên. Người cũng như vạn vật, có hình hài và linh hồn. Hồn người khi chết sẽ biến hóa tái sinh trong vật thể khác và cũng tồn tại trong Tự nhiên. Linh hồn người chết tái sinh, có khi đầu thai vào đứa trẻ mới sinh trong dòng họ, có khi lại trở thành ma/quỷ ám hại người sống. Trong cuộc sống hàng ngày, người ta luôn ý thức về cái sự ngu (tức sự chưa biết) của mình để mà hành xử hợp với lẽ tự nhiên. Người ta sợ hãi những gì xa lạ vốn không phải là mình. Cụ thể, khi nhà có người đẻ họ kiêng người lạ đến nhà; trong hôn nhân họ sợ kết hôn với người lạ, theo đó: hôn nhân giữa con cô – con cậu, con chú – con bác, con dì – con dà đã trở thành quan hệ hôn nhân ưa thích; trong hoạt động sản xuất, họ sợ xâm phạm vào rừng thiêng, nơi có nhiều cây lớn, việc chọn rừng sản xuất – khi chặt đốt phải làm theo hướng dẫn của người trưởng họ/trưởng bon (già làng); việc gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch lúa, bắp luôn cần phải cầu xin các thần (Yang); sợ ma quỷ ám hại, ít ai một mình đến rừng nghĩa địa; để có nguồn nước uống, phải giữ rừng bến nước và cúng xin thần linh ở đó,… Người Tây Nguyên đã hành động không chỉ vì miếng ăn thường nhật, mà họ còn có những mối lo toan và một tư tưởng cao lớn hơn nhiều (Dam Bao, 1950).

Các sự kiện và nghi lễ (ở phạm vi gia đình, dòng họ, bon/palei) luôn là dịp để mọi người quan sát, suy nghiệm, chia sẻ và tích lũy nên các ý niệm và cách hành xử không trái với tự nhiên.

Biến cố bất ngờ!

“Mới thoạt nhìn, ai cũng có cảm giác ở một vùng có nhiều cách biệt với bên ngoài, các cư dân Tây Nguyên dường như đã trải qua một cuộc sống yên ổn phẳng lặng. Ngược lại, Tây Nguyên luôn bị xáo động bởi những diễn biến nội tại và bởi những tranh chấp của các thế lực bên ngoài, bởi những tác động của các luồng văn hóa, của các lớp người qua lại” [...] Đến giữa thế kỷ 19, “Pháp đặt chân lên Tây Nguyên và đã mở ra những cuộc xáo trộn mới. Đặt ách đô hộ lên Tây Nguyên, người Pháp chiếm đất lập đồn điền [...]. Có nhiều làng phải dời vào rừng sâu, nhiều nơi phải dỡ phá để làm thị trấn, làm đường giao thông. Người dân bị bóc lột bằng thuế khóa và lao dịch (làm đường giao thông)” (Đặng Nghiêm Vạn, 1980)(3).

Giữa thế kỷ 20, cuộc chiến tranh chống Mỹ leo thang, Mỹ triển khai “kế hoạch Staley-Taylor” (dồn dân, lập ấp chiến lược), người Tây Nguyên buộc phải rời bỏ không gian sinh tồn cổ truyền của mình để di trú ở nhiều nơi. Nhiều bon/palei dời vào sống chung trong các ấp chiến lược, một số bon/palei vào khu căn cứ, theo cách mạng. Dưới tác động từ chính sách thời chiến của hai nhà nước, tổ chức xã hội, sinh kế và hệ thống tín ngưỡng của người Tây Nguyên bị đảo lộn.

Sau năm 1975, bối cảnh kinh tế và xã hội Tây Nguyên tiếp tục biến đổi theo hướng công nghiệp, hiện đại. Nhà nước triển khai các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng như định canh – định cư; kiểm soát dân cư để chống FULRO; xây dựng nông – lâm trường, di dân có tổ chức từ các vùng khác để lập khu kinh tế mới, xây dựng tập đoàn sản xuất, quy hoạch các dự án quản lý và bảo vệ rừng, tái định cư và xây dựng thủy điện; Nhà nước không kiểm soát di dân tự do và khai phá đất rừng,… Theo đó, nhiều bon/palei không được trở về khu rừng cổ truyền. Không gian sinh tồn cổ truyền cũng không còn nguyên vẹn trên cả phương diện địa lý lẫn trong ý niệm.

Người Tây Nguyên nay sống trong nền kinh tế hàng hóa với mô hình định canh-định cư, trồng thâm canh cây công nghiệp (cà phê, chè, tiêu, điều) để bán ra thị trường. Họ tiếp nhận các tri thức hiện đại (được coi là khoa học) từ bên ngoài, thông qua các chương trình/dự án phát triển của Nhà nước, qua các quan hệ tộc người, qua tôn giáo (Tin Lành, Công giáo), các dự án phát triển của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, qua các phương tiện truyền thông đại chúng,… Họ như chỉ tin vào những cái nhìn thấy được. Đánh mất lối tư duy truyền thống, mối tương giao giữa người với thế giới siêu nghiệm của thần linh và tự nhiên. Trong điều kiện ấy, hệ tri thức bản địa cũng mất giá trị vốn có của nó. Mặt khác, người Tây Nguyên hiểu rằng, họ phải học lấy sự khôn ngoan từ các tri thức hiện đại từ bên ngoài (như của người Kinh) để cải tạo và khai thác tự nhiên.

Nhiều người đang tự coi mình không còn ngu vì đã học hỏi được tri thức khoa học qua trường lớp, bệnh viện, nhà thờ, đặc biệt từ cách sống, cách làm của người Kinh trong vùng. Họ thấy mình không lạc hậu và mê tín dị đoan như tổ tiên của họ. Làm chủ tri thức hiện đại, nay họ không sợ thần linh, ma quỷ ở rừng thiêng, rừng nghĩa địa như xưa. Họ sẵn sàng đốn hạ hay đào tận gốc rễ bất kỳ cây cổ thụ nào trong rừng nếu Nhà nước không cấm và có thể bán được tiền. Họ có thể săn bắt những động vật lớn nhỏ khi có thể, để ăn và bán. Họ khai thác mọi thứ từ rừng, những thứ có thể làm cho họ trở nên giàu có (vật chất). Ở Tây Nguyên ngày nay, có lẽ con người khôn ngoan đã thế chỗ con người vốn luôn ý thức về sự ngu (sự chưa biết) của mình. Con người tiền bạc đã thế chỗ con người của Tự nhiên.

Và cùng với quá trình đó là sự mất dần của hệ tri thức bản địa.

(1) Những tác giả đáng chú ý như Henri Maitre (1912), Jacques Dournes (1950), Nguyễn Kinh Chi & Nguyễn Đổng Chi (1937), Georges Condominas (1957, 1965, 1980), Boulbet Jean (1967), Ngô Đức Thịnh (1996, 1998, 2004), Đỗ Hồng Kỳ (1994), Phan Đăng Nhật (1999), Oscar Salemink (2003), Đặng Nghiêm Vạn (2007), Lưu Hùng (2014, Ngô Văn Lệ (2014),…
(2) Các tộc người chủ yếu như Ba na, Xơ đăng, Mnông, Mạ, Cơ ho, Xtiêng… (thuộc nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer) và Ê đê, Gia rai, Raglai, Chu ru (thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesian).
(3) Đặng Nghiêm Vạn, Bàn về lịch sử tộc người và đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa cư dân Tây Nguyên, Tạp chí Dân tộc học, số 3-1980, tr.2

Phạm Thanh Thôi
Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM

Link nguồn bài viết: Có một hệ tri thức bản địa ở Tây Nguyên bị đánh mất

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie