Cấu trúc Bon(làng) – Biến đổi xã hội của người Cơho-Cil ở Lâm Đồng (Phần 1) – Phạm Thanh Thôi

Tóm tắt:

Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam, nơi có nhiều tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer và Malayo-Polynesian sinh sống. Sau năm 1960, quân lực Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam) buộc nhiều tộc người sống ở “vùng sâu, vùng xa” gần với khu căn cứ cách mạng của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc), như người Cil (Cơho-Cil) phải rời khỏi bon (làng) cổ truyền đến sống tập trung trong các ấp chiến lược, nơi gần các tuyến giao thông lớn để họ dễ kiểm soát. Từ sau chiến tranh (30-4- 1975) đến nay, người Cil không trở về chỗ bon cổ truyền mà chủ yếu đã sống định canh- định cư ngay tại khu vực đất đai của các ấp chiến lược. Nhà nước đã thiết lập hệ thống quản lý hành chính đến với các bon (làng) và người Cil đã phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nhiều thành phần. Người Cil không còn du canh trồng lúa, bắp “trên rừng” mà đã trồng thâm canh cây cà phê. Theo đó, xã hội và cấu trúc xã hội qua bon, dòng họ, gia đình và hôn nhân đã có những biến đổi. Mục đích của bài viết này nhằm làm sáng rõ những biến đổi xã hội của người Cil ở Lâm Đồng qua những tác động của các chính sách của nhà nước kể từ sau 1960 đến nay.

 

1.Giới thiệu
Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên, nơi có nhiều tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer và Malayo-Polynesian sinh sống. Từ 1961 đến năm 1975, chiến lược chiến tranh tại Việt Nam của Mỹ đã “leo thang”. Các mô hình “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa Chiến tranh” đã tác động đến sự thay đổi không gian cư trú của người Cil (Cơho –Cil) một cách toàn diện.

Đáng kể, từ giữa năm 1961, chính quyền Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa (ở miền Nam) đã triển khai “kế hoạch Staley-Taylor”, tiến hành càng quét để dồn dân lập “ấp chiến lược”, “ấp tân sinh”, “khu trù mật”. Tại Lâm Đồng, quân lực đã có nhiều đợt càng quét qui mô lớn cư dân người dân tộc thiểu số (trong đó có người Cil) ở các “vùng sâu, vùng xa” để dồn ép họ di chuyển đến sinh sống tại những khu tập trung-ấp chiến lược(3).
Theo đó, từ sau năm 1960, người Cil (Cơho-Cil)4 ở Lâm Đồng phải rời khỏi khu vực đất đai của bon (làng) cổ truyền đến sống tập trung trong các ấp chiến lược, tại các khu vực đất đai “xa lạ” nhưng gần các tuyến giao thông lớn để quân lực và chính quyền dễ kiểm soát. (xem sơ đồ 1).

1
Khi người Cil sống tại bon(5) ở khu vực đất đai trước năm 1960, cấu trúc xã hội của họ chính là những công xã láng giềng-mẫu hệ. Nền kinh tế trồng trọt luân khoảnh và mang tính tự cung tự cấp trong phạm vi gia đình, dòng họ và bon. Hệ thống tín ngưỡng đa thần luôn chi phối rõ nét các hoạt động của đời sống hằng ngày, đặc biệt trong sinh kế.
Tại ấp chiến lược, sinh kế và không gian xã hội thay đổi, người Cil đã “giảm dần” sự chi phối của hệ thống tín ngưỡng cổ truyền và tiếp nhận tôn giáo thế giới (Tin lành và Công giáo). Đáng kể, sau 1975, người Cil không được trở lại bon (làng cũ), sống định canh–định cư và cuộc sống xã hội chịu tác động khi nhà nước đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng trong bối cảnh hậu chiến tranh ở Lâm Đồng. Quyền sử dụng đất canh tác và phương thức sinh kế cũng theo mô hình kinh tế tập thể, tập đoàn sản xuất của nhà nước. Các chương trình/chính sách nhà nước qua từng “nhiệm kỳ” như di dân lập khu kinh tế mới, định canh-định cư; kiểm soát dân cư để đánh FULRO (1976-1988); lập các nông-lâm trường;.v.v. và hàng loạt các dự án phát triển kinh tế-xã hội khác đã tác động đến xã hội của người Cil.
Hơn thế, các hoạt động sinh kế và tổ chức xã hội của người Cil tiếp tục gắn liền và đối diện với nền kinh tế sản xuất hàng hóa trong bối cảnh CNH-HĐH. Nhiều chính sách nhằm “xóa đói giảm nghèo”, mở rộng và tăng qui mô các mô hình sản xuất kinh doanh trong vùng, ở những nơi gần kề bon người Cil sinh sống. Xã hội và cấu trúc xã hội của người Cil đã và đang trải qua những sự biến đổi.
Nghiên cứu biến đổi xã hội là một lĩnh vực không mới đối với các nhà xã hội học và nhân học. Trường phái thứ nhất, nhấn mạnh vào sự hội tụ của những giá trị như là kết quả của “sự hiện đại hóa”- những lực lượng chính trị và kinh tế thúc đẩy biến đổi xã hội. Coi những biến đổi xã hội [văn hóa] là kết quả của những biến đổi kỹ thuật. Họ dự đoán sự suy tàn của những giá trị truyền thống và sự thay thế nó bằng những giá trị “hiện đại”. Trường phái thứ hai, nhấn mạnh sự duy trì những giá trị văn hóa truyền thống bất chấp những biến đổi chính trị và kinh tế. Theo đó, những giá trị văn hóa tương đối độc lập với những điều kiện kinh tế. Gần đây, Ronald Inglehart và Wayne Baker (2000) đã kết luận rằng, “[…] Những nhà lí thuyết hiện đại hóa chỉ đúng một phần. […] Hiện đại hóa không diễn ra theo một đường thẳng. […]. Hiện đại hóa là có thể chứ không phải mang tính quyết định. Biến đổi kinh tế có xu hướng biến đổi một xã hội nào đó theo một hướng có thể dự đoán được, nhưng quá trình và con đường đi không phải là tất yếu. Nhiều yếu tố có liên hệ với nó, do đó, bất kỳ một sự dự đoán nào phải tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử và văn hóa của xã hội đó (Ronald Inglehart, Wayne: 2000, 49).
Mục tiêu của bài viết này nhằm làm sáng rõ sự biến đổi xã hội của người Cil ở Lâm Đồng qua các phạm trù bon (làng), thân tộc, dòng họ, gia đình và hôn nhân. Kết quả nghiên cứu này dựa trên tư liệu nghiên cứu thực địa tại các bon người Cil của tôi cùng TS. HONDA Mamoru (Trường Đại học TOYO, Nhật Bản) qua nhiều đợt kể từ năm 2004 đến nay.

2. Cấu trúc xã hội của người Cil và quá trình biến đổi
Từ sau năm 1960, sinh kế và xã hội người Cil không còn giống như Dam Bo (Jacques Dournes) đã mô tả, “dù sườn núi dốc đến đâu , đất đai có cằn cỗi và rừng có rậm rạp, vẫn là nơi bá m trụ của ngườ i Cil , một tộc người khốn khổ […] sống bằng ít gạo và bắp (Dam Bo: 1950, tr.50-51). Người Cil không còn “sống trên rừng”, theo đó, cấu trúc xã hội đã trải qua những quá trình biến đổi.
2.1 Bon (làng)
Trước khi vào ấp chiến lược, người Cil sống trong những căn nhà dài (hih rot). Họ chặt đốt cây rừng theo hình thức luân khoảnh dọc theo các ven bờ suối. Khu đất trồng trọt được quay vòng qua nhiều khu rừng. Người Cil chủ yếu gieo trồng bắp, lúa và các loại rau, đậu. Mỗi bon có 4-5 ngôi nhà sàn dài6, tương ứng với 1 đơn vị gia đình (hih nhă). Mỗi căn nhà dài thường là nơi của các thành viên thuộc một dòng họ, ngoại trừ những người đàn ông là chồng của những người phụ nữ đã đến từ các dòng họ khác (cùng bon
hoặc khác bon). Cùng một bon, các nhà sàn dài thường không cách quá xa, bằng chân trần người ta có thể đi lại dễ dàng. Các bon thuộc về những dòng họ khác nhau. Ranh giới đất đai và quyền sử dụng đất của người dân mỗi bon luôn được xác định. Người trong dòng họ và ở các bon khác nếu muốn sử dụng khu đất mà chưa phải của mình (tức của thuộc dòng họ hay bon nào đó trong vùng) thường phải qua lễ ăn xin đất để dân làng làm chứng. Khoảng cách từ bon này đến bon khác, thường phải qua những ngọn đồi, dòng suối. Người Cil ở Bon Ja (xã Đưng Knơh) nếu đi đến bon người Cil ở Kon Klang (vùng Dạ Nhim) bằng chân trần có thể mất hơn 1 ngày.
Đất đai của mỗi bon thuộc quyền sở hữu của mỗi dòng họ trong bon. Cư dân trong bon đều biết ranh giới đất đai của dòng họ mình và của dòng họ khác. Họ cùng canh tác và bảo vệ quyền sử dụng đất cho nhau. Các cặp vợ chồng khi có con cái thường có bếp riêng trong những căn nhà dài ấy, và thường chọn thêm khu đất mới để canh tác theo sự hướng dẫn của người trưởng dòng họ (đó là đàn ông cao tuổi trong dòng họ-là ông Cậu của những người phụ nữ thế hệ thứ hai) và có khi là người chồng của người phụ nữ cao tuổi trong dòng họ, nhằm tránh xâm phạm đất của dòng họ khác. Trong không gian sinh tồn của bon, mỗi gia đình trong các dòng họ có tính độc lập, tự cung tự cấp về kinh tế. Cơ cấu xã hội mang tính chất tự trị, tự quản trong phạm vi bon, đặc biệt là dòng họ và gia đình. Thông thường, trong bon có 2-3 dòng họ, nhưng có 1 hoặc 2 người cao tuổi là trưởng dòng họ (cau kwuang kră) thể hiện sự hiểu biết phong tục và uy tín vượt trội hơn những người khác, thì ông sẽ được cư dân trong bon coi như là người già làng (cau kwang bon). Vai trò và vị trí xã hội của người già làng này không chỉ tác động trực tiếp đến đời sống và cuộc sống của người trong dòng họ ông ta, mà đối với các dòng họ trong bon. Các vấn đề xảy ra vượt quá phạm vi gia đình và dòng họ không thể giải quyết như tranh chấp đất đai giữa cư dân các bon, vấn đề loạn luân, vấn đề trộm cắp, đốt nhà, giết người,… già làng là người có uy tín cao nhất đứng ra hoà giải theo luật tục.
Hệ thống luật tục chưa thành văn ở mỗi bon có sự khác nhau tương đối, tồn tại trong tâm thức của mọi cư dân, nhất là những người lớn tuổi trong gia đình và dòng họ. Luật tục là cơ sở điều tiết các ứng xử và quan hệ xã hội theo từng tình huống trong đời sống hàng ngày của mọi cư dân.
Vai trò và vị trí xã hội của những người phụ nữ thuộc thế hệ lớn nhất còn sống trong dòng họ được xác lập rõ ràng. Những người đàn ông là anh, em trai cùng thế hệ của những người phụ nữ ấy, khi xét trong quan hệ dòng họ, họ cũng có vị trí xã hội tương ứng,. Tuy vậy, quyền sử dụng tài sản và quyền thừa kế tài sản thuộc về các chị em gái, người đàn ông đóng vai trò là ông cậu (kồn) góp ý và tư vấn cách quản lý, phân chia tài sản hay giải quyết vấn đề trong cuộc sống của gia đình (của cha mẹ đẻ cùng chị, em gái).
Từ sau năm 1960, khi bị dồn ép vào “ấp chiến lược” của lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Theo đó, mỗi bon người Cil không còn tính chất biệt lập về xã hội và kinh tế vì sự cư trú phân tán như trước. Ấp chiến lược chính là khu tập trung cư dân của các bon từ nhiều nơi. Quân lực VNCH đã chặt đốt cây rừng và dùng xe ủi san bằng một khu đất đồi chừng vài km2. Người Cil bị buộc phải đào đường hố (sâu 1m, rộng 1m) xung quang khu đất. Dưới đường hố có cắm chông và rào dây kẽm để ngăn cấm người ra vào. Khu dân cư này có quân lính gác cổng và người dân chỉ được ra vào khu ở của mình theo đúng giờ qui định (sáng từ 7 giờ đến 5 giờ chiều). Không gian cư trú tập trung theo mô hình này còn được gọi là ấp chiến lược. Lúc này, bon người Cil trở thành đơn vị hành chính nhỏ nhất, trực thuộc sự quản lý của cơ quan hành chính cấp xã/quận.

Sơ đồ mô hình ấp chiến lược

2

 

Vào ấp chiến lược, không gian ở được chia ra thành các khu có ranh giới là những con đường đất đỏ khoảng 5 mét. Mỗi khu là không gian định cư (nhà ở) của một bon. Một số ấp, chính quyền hỗ trợ mỗi hộ 5 tấm tôn nhôm, đinh đóng, vải làm mền chống gió lạnh. Phần lớn, cư dân tự cưa/chặt cây rừng, tre, và tranh để làm nhà ở cho mình. Các ấp chiến lược nơi người Cil tập trung (như ở Pang Tiêng, Rchai, NTôn Hạ, Đam Rong…) đều có nhà thờ Tin Lành được làm bằng tre, cây-ván gỗ và lợp tôn nhôm. Từng khu trong ấp chiến lược, người Cil đã quần cư theo từng bon và dòng họ. Nhưng các bon và dòng họ trước đây vốn cách xa về địa lý, nay trong ấp chiến lược thì lại gần kề. Ở mức độ nhất định, từ đây, cấu trúc xã hội của người Cil đã thay đổi. Mỗi bon (hoặc 1 khu, 1 ấp) có già làng, có trưởng/phó ấp quản lý, có lính canh gác/theo dõi, có mục sư/chấp sự hoặc truyền đạo (đạo Tin Lành) hoặc có linh mục (một số bon theo đạo Công giáo) giảng đạo/nâng đỡ tinh thần, có các giáo viên dạy chữ viết, có y tá khám bệnh, đỡ đẻ.v.v.
Bon trong ấp chiến lược, đối với nhiều người chỉ là nơi để ở vào ban đêm. Cư dân phải tự đi tìm đất rẫy phân tán theo địa hình rừng núi để trồng bắp và bầu, bí. Có nhiều dòng họ phải làm lễ kết nghĩa với người Cơho –Srê, Cơho –Lạt để xin đất rừng (đồi) để sản xuất. Thay đổi quyền được canh tác đất trồng trọt (do sống ở vùng người Cơho-Srê, Lạt, M’Nông,..) nên hoạt động trồng trọt gặp khó khăn. Nhiều gia đình vẫn chủ yếu ăn cháo bắp và khoai mì.
Đáng chú ý, không ít người thanh niên được học chữ viết (Kơho) qua lớp học, hay nhà thờ và qua việc đọc kinh thánh. Nhiều người đã coi việc đi lính (chủ yếu gia nhập quân lực Việt Nam Cộng Hòa) và truyền giáo (Tin Lành) là sinh kế, là giá trị của cuộc sống. Đến năm 1975, tại các bon đều đã có mục sư hoặc chấp sự hay truyền đạo (Tin Lành) là người Cil. Thực tế, người Cil đã trở thành một dân tộc có số lượng mục sư và chấp sự truyền đạo Tin Lành đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng. Khi ở ấp chiến lược, người Cil đã tham gia vào cấp quản lý ấp (ấp chiến lược) đã có nhiều. Những người uy tín trong dòng họ hay bon cũng là các chức sắc tôn giáo hướng dẫn hoạt động kinh tế, chính trị xã hội, giáo dục, thực hành luật tục khi có tranh chấp hay trong qua hệ hôn nhân và các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo.
Ở nhiều bon, có khi già làng (cau kwang bon), trưởng dòng họ (cau kwang kră) cũng là mục sư, cũng là người truyền đạo, nên tổ chức xã hội trong bon không dễ phân biệt một ranh giới rõ ràng giữa thiết chế xã hội truyền thống và thiết chế tôn giáo. Luật tục và giáo lý, cái nào tác động và chi phối mạnh hơn đến đời sống của cư dân trở thành câu hỏi khó có câu trả lời thỏa đáng. Mỗi bon đều có sự hiện diện của các thiết chế hành chính, thiết chế tôn giáo, thiết chế cấu trúc xã hội mẫu hệ theo dòng họ mẹ. Ở mỗi bon, theo đó đã và đang có sự hiện diện và tác động của các giá trị mới và cũ; của luật pháp và luật tục, của giá trị đạo đức cổ truyền và luật tục trong tôn giáo, của các giá trị kinh tế đến từ các ngành nghề.

Sau năm 1975, trong thời kỳ kinh tế tập thể “tập đoàn sản xuất”, bon (có nơi 2-3 bon) là một đơn vị sản xuất nằm trong hệ thống tổ chức kinh tế tập thể. Trong bon, việc sắp xếp nơi cư trú, cách thức tổ chức làm ăn luôn có sự tham gia của những người lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Theo đó, hệ thống chính quyền, cơ quan Đảng, đoàn thể, và các đơn vị kinh tế nông-lâm trường, tập đoàn sản xuất, chính thức và phi chính thức đã tác động sâu sắc, làm biến đổi đặc điểm bon cổ truyền của người Cil. Bon không còn phản ánh tính chất tự cung, tự cấp về kinh tế lẫn xã hội do những chuyển đổi lớn trong quyền sử dụng và khai thác đất đai. Trong không gian của thôn, người Cil tại các xã khác nhau, có nơi cư trú xen kẽ với người Kinh, người Mnông, người Churu, người Cơho (Srê), người Lạch và cả người Tày, người Nùng, người Dao (di cư từ miền núi phía Bắc đến trong những năm 1990).
Khi bon trở thành đơn vị hành chính thuộc nhà nước, vai trò của già làng, trưởng dòng họ đã dần thay đổi. Người đại diện chính quyền quản lý nhân-hộ khẩu, phân chia đất đai. Quyền tham gia quản lý xã hội và các công việc của bon phụ thuộc vào cán bộ chuyên trách cấp xã và huyện. Các chức vị quản lý trong thôn (1 hoặc 2-3 bon gộp thành 1 thôn) được xác lập bởi chính quyền, thông qua hình thức giới thiệu và bầu chọn. Theo đó, sau năm 1975, các cán bộ được đề cử làm việc ở thôn ưu tiên chủ yếu là những người đã có công trong chiến tranh (theo cách mạng vào khu căn cứ) và những người biết chữ phổ thông có (lý lịch trong sạch) và có trình độ. Ở những thôn có đa phần người Kinh sống cùng người Cil hay có các dân tộc thiểu số phía Bắc (như Tày, Nùng) sống gần kề, các vị trí quản lý hành chính thôn như trưởng, phó thôn, trưởng tập đoàn sản xuất, thường do người thuộc dân tộc khác đảm nhận.
So với các dân tộc khác, nhiều bon của người Cil thường ở xa trung tâm trụ sở xã hơn. Người Cil vẫn là cư dân năng sống và làm việc trên rừng. Trong giao tiếp hằng ngày, họ vẫn ít tiếp xúc với người Kinh, đặc biệt là những người quản lý xã hội cấp xã. Hơn nữa, những người Cil biết chữ phần nhiều là các chức sắc tôn giáo, mục sư, chấp sự, truyền đạo (trước năm 1975. Đáng lưu ý, hầu hết các bon người Cil khi vào ấp chiến lược đã theo đạo Tin Lành, số ít bon theo Công giáo). Thực tế, sau 1975 đến đầu năm 1990, có
những lý do chính trị (lực lượng FULRO còn chống phá nhà nước ở Lâm Đồng7) nên
chính quyền cấp xã không quy hoạch và ít khi đề cử người Cil vốn là chức sắc tôn giáo vào các vị trí quản lý chính trị ở cấp xã hay thôn.
Từ sau năm 1990, số người Cil mới trở lại tham gia vào chính quyền cấp thôn, xã được nhiều hơn (so với giai đoạn 1975-1990). Hiện nay, có nhiều nơi như ở Đạ Long, Phi Liêng, Phú Hội, Tà Năng, Dạ Sar, Đạ Nhim, Dạ Chair, Dưng K’nơh,…người Cil ở độ tuổi 30-40 tuổi được đề cử vào làm chủ tịch và phó chủ tịch xã, hay các ban ngành, đoàn thể đã tăng lên. Những người Cil, bất kể có thuộc dòng họ nào, thậm chí không phân biệt tôn giáo, nếu có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học, thì có cơ sở để tham gia vào các vị trí quản lý xã hội trong các cơ quan hành chính cấp xã nói trên.
Khi người Cil tham gia quản lý xã hội trong cơ quan hành chính của chính quyền và làm việc theo cơ chế nhiệm kỳ, tác phong làm việc dần được chuyên môn hóa. Từ những thay đổi về tổ chức hành chính, vai trò và vị thế của già làng, trưởng họ dần dần chỉ được thể hiện giới hạn trong một số nội dung ở phạm vi dòng họ. Thực tế, đời sống và hoạt động kinh tế của mọi cư dân trong bon phụ thuộc nhiều vào cách quản lý của cơ quan hành chính của nhà nước. Quyền lợi và nghĩa vụ của cư dân không chỉ bó hẹp trong phạm vi bon, dòng họ và luật tục cổ truyền mà chịu tác động từ bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội của toàn vùng. Nhìn chung, quyền lực và vị thế của già làng đã phân tán, những tranh chấp mâu thuẫn xã hội liên quan đến hôn nhân, đất đai đã xảy ra nhiều, nhưng già làng hay trưởng dòng họ thường can thiệp hòa giải ở mức góp ý kiến. Hội đồng hòa giải cấp thôn/xã thường có 5-7 thành viên bao gồm các cán bộ chuyên trách cấp thôn/xã (như là bí thư, trưởng thôn, trưởng công an, trưởng hội phụ nữ.v.v), trong đó già làng là một thành viên. Đã có nhiều trường hợp tranh chấp đất đai và mâu thuẩn trong hôn nhân đã xảy ra mà không được hòa giải theo luật tục cổ truyền với vai trò quyết định từ tiếng nói của già làng. Hội đồng hòa giải của thôn/xã đã đứng ra hòa giải và khi này, tiếng nói của già làng chỉ mang tính tham khảo, luật pháp nhà nước là cơ sở chủ yếu để các cán bộ chuyên trách giải quyết tranh chấp.
Có thể nói, ở cấp độ bon(làng), cơ cấu xã hội và các định chế xã hội chính thức và phi chính đan xen khó nắm bắt. Trong đời sống hằng ngày, người Cil đến nay vẫn hành xử theo lẽ thường có trong phạm vi bon và dòng họ của mình. Tuy vậy, sự phức tạp hóa trong các quan hệ hành chánh, quyền lực, kinh tế và xã hội tại các bon người Cil hiện nay, khiến cho mỗi nhóm cư dân (có đặc điểm nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo, lứa tuổi, giới, dòng họ,.v.v) đã vận dụng các “luật lệ” xã hội (chính thức và phi chính thức) theo những cách và trong những tình huống xã hội khác nhau. (còn tiếp)

Phạm Thanh Thôi(2)

***

Các chú thích:

1Xem bản gốc khi cần trích dẫn trên Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ, ISSN 1859-0128, X4/2014, tr. 73-85

2Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; E- mail: thoiphamthanh@gmail.com.

3Từ năm 1962, trong Phiếu đề trình Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Tư tệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh và Khu 31 chiến thuật dự trù di chuyển người Cil ở Bắc Đà Lạt lên thung lũng Krông Nô (huyện Đam Rông ngày nay) là 6034 người. Tuy nhiên, do những điều kiện cư trú, phong tục, tôn giáo, cách sống.v.v có khác với người Mạ, người Mnông Gar nên trong thời gian này, người Cil đã bị dồn ép hoặc tự nguyện di chuyển theo hai hướng chính, một bộ phận đến Dam Rông, một phận khác đến vùng Dạ Sar. Cụ thể hơn về quá trình di trú của người Cơho –Cil vào ấp chiến lược trong và sau chiến tranh kể từ năm 1960 đến nay sẽ được tôi trình bày trong một bài viết khác.
4 Theo Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam (Tổng Cục Thống kê Việt Nam, 1979), người Cil (Cơho-Cil) là nhóm địa phương của dân tộc Cơho
5Bon là từ chỉ tên gọi về không gian xã hội của người Cil (như bon Ja, bon Mạ…), có nội hàm gần với từ làng của người Việt; đồng thời bon cũng là khu vực đất đai có ý nghĩa lịch sử, nguồn gốc và sinh kế với cư dân. Theo đó, người Cil dù di chuyển đến khu vực đất đai nào khác để sinh sống, tên bon của họ vẫn được mang theo họ để nhận biết và phân biệt với người bon khác.

6 Số lượng nhà ở tại mỗi bon có sự khác nhau, nhất là khác vào thời điểm trong lịch sử.

7 Ở Lâm Đồng, các “tàn quân” của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, sau 1975 đã vào rừng (vùng Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà, Đam Rông) lập căn cứ chống phá chính quyền đến năm 1988 tạm lắng và chấm dứt.

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie