Cấu hình xã hội cộng đồng Công giáo Bắc di cư

Sự kiện di cư hàng loạt của những người Công giáo miền Bắc vào miền Nam sau Hiệp định Genève năm 1954 là một sự kiện mà cho đến nay có rất ít công trình khoa học xã hội chú tâm nghiên cứu.

Trong sự kiện lịch sử xã hội vốn mang đầy tính chất bi tráng này, có một nét đặc thù mà chắc ai cũng dễ dàng nhận thấy, đó là hiện tượng quá trình di dân diễn ra phần lớn trên quy mô tập trung theo từng làng, từ làng gốc ở miền Bắc cho tới làng định cư ở miền Nam. Chắc hẳn nét đặc thù mang tính cộng đồng này là một trong những nhân tố sẽ dẫn đến nhiều tính chất đặc trưng về sau này của những cộng đồng Công giáo Bắc di cư trong lòng xã hội miền Nam, xét cả về mặt văn hóa-xã hội lẫn kinh tế-xã hội, mà cho đến nay người ta vẫn chưa nghiên cứu thấu đáo hết các khía cạnh đa dạng.

Công trình nghiên cứu thực hiện theo hướng tiếp cận nhân học của Nguyễn Đức Lộc là một nỗ lực hiếm hoi đáng ghi nhận theo chiều hướng vừa nêu. Công trình này tìm hiểu quá trình định cư và lập nghiệp của những cộng đồng làng xã người Công giáo miền Bắc ở Nam bộ, qua việc khảo sát cụ thể ở Hố Nai và Cái Sắn, xét trên hai phương diện – phương diện cấu trúc cộng đồng làng xã và phương diện ứng xử của cá nhân.

Về sự hình thành của các giáo xứ Công giáo di cư trên vùng đất mới ở Nam bộ, tác giả đã xướng xuất một luận đề độc đáo để giải thích quá trình này, đó là hiện tượng tái sản xuất cấu trúc cộng đồng giáo xứ dựa trên mô hình làng xã cổ truyền vùng Bắc bộ cùng với những mối quan hệ thân tộc và đồng hương đặc trưng của mô hình này.

Khi nghiên cứu về những đặc trưng của cấu trúc cộng đồng ở một bên, còn bên kia là chiến lược ứng xử của cá nhân, tác giả đã tìm cách vượt qua cuộc tranh luận lý thuyết từng kéo dài nhiều năm trong giới học thuật khoa học xã hội trên thế giới giữa phái cấu trúc luận và phái tác nhân luận (structure/agency) để đi đến nhận định cho rằng bên cạnh tính quy định của các cấu trúc xã hội, các chiến lược ứng xử khác nhau của các cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng không nhỏ trong việc duy trì, củng cố hoặc điều chỉnh và thay đổi chính các cấu trúc ấy. Từ đó, Nguyễn Đức Lộc đã đi đến chỗ sử dụng thuật ngữ “cấu hình xã hội” ở một số đoạn để thay thế cụm từ cơ cấu hay cấu trúc xã hội.

Ở đây, chúng tôi liên tưởng tới khái niệm “cấu hình” (configuration trong tiếng Anh, Figuration trong tiếng Đức) mà người đầu tiên nêu lên là nhà xã hội học Norbert Elias (1897-1990). Trong quyển Xã hội học là gì ? xuất bản năm 1970, Elias cho rằng nhà nghiên cứu cần tránh rơi vào cái bẫy “đồ vật hóa” những khái niệm khoa học xã hội như chuẩn mực, giá trị, quyền lực, chức năng, cấu trúc, giai cấp xã hội… bởi lẽ những khái niệm này hoàn toàn không phải là những đồ vật tĩnh tại bất di bất dịch, mà thực chất đều là những khái niệm hàm chứa những mối quan hệ xã hội, đồng thời chính chúng cũng là những quá trình xã hội. Khi nói tới “cá nhân” và “xã hội”, người ta thường lầm tưởng rằng đây là hai thực thể riêng rẽ, làm như thể chúng có thể tồn tại biệt lập nhau ! Theo Elias, thực ra, đấy chỉ là “hai cấp độ khác nhau nhưng không thể tách rời nhau của cõi nhân sinh”. Vì thế, con người cá nhân phải luôn luôn được hiểu như là những cá nhân mang tính xã hội, và ngược lại, xã hội phải luôn luôn được hiểu như là xã hội của các cá nhân, được kết tập bởi các cá nhân. Elias cho rằng có thể sử dụng “cấu hình” như một công cụ khái niệm để vượt qua cái bẫy thô thiển hóa khái niệm khoa học xã hội. Lấy hình tượng một ván bài giữa bốn người hay một trận bóng đá giữa hai đội, Elias diễn giải rằng cấu hình xã hội là một “hình ảnh tổng thể luôn luôn biến động” của bốn người đang chơi bài, hay của những cầu thủ của cả hai đội đang chạy giành banh trên sân cỏ. Như vậy, cấu hình là một tập hợp các mối quan hệ căng thẳng giữa các cá nhân (hay cũng có thể nói là giữa các lực khác nhau), trong đó các cá nhân luôn luôn tương thuộc lẫn nhau – tương thuộc hiểu theo nghĩa liên minh hay đồng đội, lẫn theo nghĩa đối thủ hay đối đầu. Cấu hình xã hội do vậy là một cấu hình luôn chuyển động, có thể có một sự quân bình, nhưng đây là sự quân bình luôn biến dịch trong cái thế tương tác giữa các lực khác nhau, vì có lúc thì nghiêng về bên này, nhưng cũng có lúc lại nghiêng về bên kia. Khái niệm “cấu hình” của Elias, theo thiển ý chúng tôi, tỏ ra có khả năng mô tả và phân tích các hiện tượng xã hội một cách hiệu nghiệm hơn so với những khái niệm quen thuộc lâu nay như “cấu trúc” hay “hệ thống”.

Khái niệm “cấu hình xã hội” mà Nguyễn Đức Lộc sử dụng trong công trình này tuy không trực tiếp xuất phát từ, hay trùng khớp với, tư tưởng của Norbert Elias, nhưng theo chúng tôi cũng là một nỗ lực ban đầu đi theo hướng dòng mạch suy nghĩ này.

Đứng trên góc độ nhân học văn hóa, Nguyễn Đức Lộc đã nhận định về tính cố kết cộng đồng của những làng Công giáo Bắc di cư một cách xác đáng rằng “sự cố kết cộng đồng dựa trên mối quan hệ họ hàng và hàng xóm, láng giềng, cùng thân phận lưu dân và nhất là dựa trên cơ sở cùng chung niềm tin tôn giáo”.

Chính do thân phận lưu dân trên quy mô cộng đồng tôn giáo mà những người Công giáo di cư một mặt vừa phải gắng sức chinh phục vùng đất mới và cuộc sống mới, mặt khác vừa chọn lựa tư thế tự vệ để bảo tồn căn cước cộng đồng tôn giáo của mình. Có lẽ hai chiều kích tâm thế tập thể này – vừa chinh phục, vừa tự vệ – là hai nhân tố then chốt kiến tạo nên hình thái đặc trưng nổi bật mang nặng tính chất khép kín của mô hình làng xã Bắc bộ cổ truyền nơi phần lớn các cộng đồng giáo xứ Bắc di cư ở Nam bộ mà thậm chí đến ngày nay người ta vẫn còn dễ dàng quan sát thấy. Hình thái cấu trúc cộng đồng này, và đi kèm theo đó là chiến lược ứng xử của các thành viên trong các cộng đồng này, mang tính chất đặc thù và khác biệt hết sức rõ rệt so với các cộng đồng làng xã khác ở Nam bộ, cũng như kể cả so với các họ đạo Công giáo gốc Nam bộ từ xa xưa.

Những dữ kiện khảo sát và phân tích của tác giả liên quan tới những biến đổi của cấu trúc cộng đồng giáo xứ Công giáo di cư cũng như của những chiến lược ứng xử của cá nhân còn bộc lộ một chiều kích quan trọng nữa của quá trình biến đổi xã hội mà giới nghiên cứu thường quan tâm, đó là xu hướng hiện đại hóa xã hội ngay trong lòng những cộng đồng Công giáo di cư. Xu hướng này không chỉ diễn ra trong vòng hơn năm thập niên qua kể từ năm 1954 mà nhất là ngày nay, khi mà những người Công giáo trong những cộng đồng ấy, đặc biệt là những tầng lớp trẻ tuổi, đang phải đối diện với những thử thách mới đang đặt ra trong các quá trình biến chuyển đa chiều kích của xã hội Việt Nam đương đại.

Qua lời giới thiệu ngắn ngủi này, chúng tôi chỉ muốn điểm xuyết một vài khía cạnh trong số nhiều khía cạnh lý thuyết và thực tiễn phong phú và hấp dẫn mà Nguyễn Đức Lộc đã dày công tìm tòi và phân tích. Mặc dù độc giả có thể đồng ý hay không đồng ý với những luận điểm nào đó trong công trình, nhưng chúng tôi vẫn hy vọng rằng quyển sách này có thể mang đến cho độc giả một số điều gợi mở mới mẻ cũng như một số giả thuyết đáng suy nghĩ để từ đó có thể mở ra những viễn tượng nghiên cứu mới trong tương lai.

TP.HCM, ngày 11-2-2012

Trần Hữu Quang

Trích lời giới thiệu sách: “Cấu hình xã hội cộng đồng Công giáo di cư tại Nam bộ”, dự kiến tái bản lần thứ nhất vào tháng 1/2015.

Chia sẻ bài viết này

Related Articles

Leave a Reply

VIỆN SOCIAL LIFE
Địa chỉ: lầu 2, Saigonuicom Building, 190B, Trần Quang Khải, Quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 0983-634-482
Email: sociallife.study@gmail.com RSS Bài viết · RSS Bình luận
học NVivo, NVivo | Liên kết: Mua thuốc dài mi Careprost Ấn Độ
Website đang chạy thử nghiệm và chờ giấy phép Trang thông tin tổng hợp.
Powered by WordPress · Designed by Theme Junkie